PDA

View Full Version : [By alibabe_jewel] Tài liệu môn lịch sử văn minh thế giới



Cafe
24-04-2010, 02:02 PM
Tên gốc :lịch sử văn minh thế giới
Người đăng: maruko90
Thời gian: 26-05-2009 14:55:36
Dung lượng: 8 bài

#1

em lại mạo muội khai trương rùi.Em thi môn này rùi nhưng mà thấy biển học là vô bờ bến nên post ít bài lên...
PHÂN TÍCH CHUYÊN SÂU VỀ BỘ LUẬT HAMMURABI
(Bài viết của Thạc sỹ Nguyễn Minh Tuấn - Khoa Luật - Đại Học Quốc Gia - Hà Nội)

Nền kinh tế của Lưỡng Hà phát triển chủ yếu là kinh tế nông nghiệp. Tuy vậy, kinh tế hàng hoá phát triển, dẫn đến nhu cầu cần phải có qui định để giải quyết các tranh chấp trong quan hệ dân sự. Người Lưỡng Hà phát hiện chữ viết (văn tự) từ rất sớm (giữa thiên niên kỷ thứ 4 trước CN). Tiền lệ pháp, tập quán pháp đă được sử dụng rất rộng răi trước khi Bộ luật này ra đời.
Về mặt nguồn gốc, Bộ luật Hammurabi được xây dựng trên cơ sở pháp điển hoá nhiều văn bản trước đó và trên cơ sở kế thừa luật lệ của người Xu-me, người Amôrít. Bộ luật Hammurabi được phát hiện năm 1901 của đoàn khảo cổ người Pháp, khắc trên đá bazan cao 2,25 m và dựng tại quảng trường thành phố cho nhân dân đọc mà thi hành. Bộ luật Hammurabi là Bộ luật tương đối hoàn chỉnh thời kỳ cổ đại, gồm 282 điều (hiện chỉ đọc được 247 điều) bao gồm ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung và kết luận[1]. Đây là một bộ luật tổng hợp được xây dựng dưới dạng luật h́nh, bao gồm các qui phạm pháp luật điều chỉnh nhiều lĩnh vực và đều có chế tài, chủ yếu điều chỉnh những quan hệ xă hội liên quan đến lợi ích của giai cấp thống trị. Phần mở đầu Vua Hammurabi tuyên bố rằng các vị thần đă trao đất nước cho nhà vua thống trị để làm cho đất nước giàu có, nhân dân no đủ. Ở phần kết luận Hammurabi tuyên bố sẽ trừng trị tất cả những ai xem thường và định huỷ bỏ đạo luật. Tác giả bộ luật đă ư thức sâu sắc kết hợp thần quyền, vương quyền, và pháp quyền, khiến bộ luật trở nên được “thiêng hoá” nhằm đạt được mục đích cai trị dân chúng.
Vượt ra khỏi hạn chế lịch sử, giá trị xă hội của Bộ luật được hiện rơ ngay từ mục đích của Bộ luật, thể hiện ở phần mở đầu của Bộ luật: “V́ hạnh phúc của loài người, thần Anu và thần Enlin đă ra lệnh cho trẫm – Hammurabi, một vị quốc vương quang vinh và ngoan đạo, v́ chính nghĩa, diệt trừ những kẻ gian ác không tuân theo pháp luật, làm cho kẻ mạnh không hà hiếp người yếu, làm cho trẫm giống như thần Samát sai xuống dân đen, tỏa ánh sáng khắp muôn dân.”
Về kĩ thuật lập pháp, tuy không phân chia thành các ngành luật nhưng bộ luật cũng được chia thành nhóm các điều khoản có nội dung khác nhau. Phạm vi điều chỉnh của bộ luật là những quan hệ xă hội rộng, bao quát lên toàn bộ hoạt động của đời sống xă hội như hôn nhân gia đ́nh, ruộng đất, thừa kế tài sản, hợp đồng dân sự, h́nh sự, tố tụng ...
Về mức độ điều chỉnh: Mức độ điều chỉnh pháp luật phụ thuộc vào tính chất của các loại quan hệ xă hội cần được điều chỉnh bằng pháp luật, các yếu tố chủ quan của nhà làm luật. Thông thường người ta phân biệt thành hai mức độ điều chỉnh pháp luật: cụ thể – chi tiết và khái quát hoá cao. Bộ luật về cơ bản áp dụng mức độ điều chỉnh cụ thể, chi tiết.
Về mặt h́nh thức pháp lư, đây là một bộ luật tổng hợp được xây dựng dưới dạng luật h́nh, bao gồm các qui phạm pháp luật điều chỉnh nhiều lĩnh vực và đều có chế tài. Phần nội dung, bộ luật tập trung điều chỉnh bốn lĩnh vực chủ yếu đó là dân sự, h́nh sự, hôn nhân gia đ́nh và tố tụng, tuy vậy không có sự tách rời giữa các lĩnh vực. Các qui phạm của Bộ luật Hammurabi cũng giống như các bộ luật khác ở Phương Đông thời kỳ cổ đại là mang tính hàm hỗn, các điều luật đều kèm theo chế tài.
a. Về dân sự:
Những điểm tiến bộ, đặc sắc nhất của Bộ luật này chính là các qui định về dân sự. Bộ luật đă đặc biệt chú ư điều chỉnh quan hệ hợp đồng, v́ đây là quan hệ phổ biến ở xă hội Lưỡng Hà cổ đại, có nhiều qui định không những tiến bộ về nội dung, mà c̣n chặt chẽ về kĩ thuật lập pháp.
Về chế định hợp đồng, Luật qui định ba điều kiện bắt buộc đối với hợp đồng mua bán:
Thứ nhất, người bán phải là chủ thực sự,
Thứ hai, tài sản phải có giá trị sử dụng,
Thứ ba, phải có người làm chứng.
Bộ luật cũng qui định các điều khoản lĩnh canh ruộng đất. Đối với ruộng, người lĩnh canh nhận mỗi mùa từ 1/3 - 1/2 số sản phẩm thu hoạch. Đối với vườn được nhận 2/3 số sản phẩm thu hoạch.
Điểm tiến bộ hơn nữa là luật đă qui định mức lăi suất đối với hợp đồng vay nợ. Cụ thể luật qui định mức lăi suất đối với tiền là 1/5, vay thóc là 1/3.
Về chế định thừa kế tài sản, Luật Hammurabi phân làm hai loại thừa kế: thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc.
Thừa kế theo pháp luật: Nếu người cho thừa kế không để lại di chúc th́ tài sản được chuyển đến cho những người có quyền đối với tài sản đó theo luật định. Thời gian đầu tài sản tập trung ở ḍng họ và dần dần được chuyển về gia đ́nh có quyền thừa kế và thành tài sản chung của gia đ́nh. Đó là cách thừa kế theo pháp luật.
Thừa kế theo di chúc: Bộ luật đă hạn chế quyền tự do của người viết di chúc như qui định người cha không được tước quyền thừa kế của con trai nếu người con mới phạm lỗi lần đầu và lỗi không nghiêm trọng. Con trai, con gái đều được hưởng quyền thừa kế ngang nhau.

b. Về lĩnh vực hôn nhân và gia đ́nh:
Theo xu hướng củng cố địa vị của người chồng, người cha nên trách nhiệm và nghĩa vụ thuộc về người vợ và con cái. Nếu không có con, người chồng có quyền ly dị, bán vợ hoặc lấy vợ lẽ. Nếu bắt được vợ ngoại t́nh th́ chồng có quyền trói vợ và nhân t́nh của vợ ném xuống sông cho chết. Ngược lại nếu vợ bắt được chồng ngoại t́nh, chỉ có quyền ly dị mà thôi.
Điểm tiến bộ là đă có qui định kết hôn phải có giấy tờ, ở mức độ nào đó có qui định bảo vệ người phụ nữ (người vợ có quyền ly hôn khi người chồng đi khỏi nhà không có lư do, chồng có quan hệ ngoại t́nh hay vu cáo vợ ngoại t́nh). Có một qui định rất nhân đạo nếu đặt trong hoàn cảnh lúc bấy giờ là: ”Người chồng không được bỏ vợ khi biết người vợ mắc bệnh phong hủi.”

c. Về h́nh sự:
Lĩnh vực H́nh sự là lĩnh vực thể hiện rơ nhất tính giai cấp và sự bất b́nh đẳng. Một nguyên tắc xuyên suốt và thể hiện rơ trong Bộ luật là nguyên tắc bảo vệ quyền lợi, địa vị của người chồng, người cha trong gia đ́nh. Thí dụ, nếu không có con, người chồng có quyền ly dị hoặc bán vợ hoặc lấy vợ lẽ; nếu bắt được vợ ngoại t́nh th́ chồng có quyền trói vợ và nhân t́nh của vợ ném xuống sông cho chết. Ngược lại nếu vợ bắt được chồng ngoại t́nh, chỉ có quyền ly dị mà thôi. Điều 129 qui định : "Nếu vợ của dân tự do ngủ với người đàn ông khác mà bị bắt, th́ phải trói cả hai người này lại và ném xuống sông"
Tàn dư của xă hội nguyên thuỷ rất rơ là nguyên tắc trả thù ngang bằng, thậm chí c̣n cho phép trừng trị cả những người không liên quan đến tội phạm. Nguyên tắc này chỉ căn cứ vào hậu quả xảy ra trên thực tế để áp dụng trách nhiệm pháp lí, chứ không xét trên phương diện mức độ lỗi và chủ thể thực hiện hành vi vi phạm. Thí dụ, Điều 38 qui định: " Nếu thợ xây nhà mà xây không đảm bảo, nhà đổ, chủ nhà chết th́ người thợ xây bị giết." hoặc Điều 39: "Nếu nhà đổ, con của người chủ nhà chết th́ con của người thợ xây cũng phải chết theo".
Bằng phương pháp thống kê, tác giả thấy trong Luật Hammurabi có nhắc tới 32 trường hợp xử tử h́nh. Thường là các h́nh phạt rất khắc nghiệt như d́m, đóng đinh, chém v.v…Tính chất tương xứng trong trách nhiệm pháp lư nhấn mạnh nhiều đến tính trừng trị đối nhân hoặc đối vật, mà chưa tính đến tính giáo dục, hay tạo điều kiện để người vi phạm hoàn lương. Bên cạnh đó, Bộ luật c̣n nêu ra trách nhiệm tập thể của các thành viên công xă đối với nhà nước; qui định về trừng phạt kẻ giúp nô lệ chạy trốn, trừng phạt những kẻ xâm phạm quyền sở hữu của nhà vua, chủ nô; Trừng phạt người quản gia làm thất thoát tài sản của chủ bị ném cho dă thú xé xác; Lấy cắp gia cầm hoặc các đồ dùng khác của chủ sẽ bị phạt từ 10 đến 30 lần giá trị thứ lấy cắp. Nếu không nộp được phạt, kẻ lấy cắp sẽ bị giết.
Điểm tiến bộ trong lĩnh vực h́nh sự là luật đă manh nha phân biệt phạm tội vô ư và phạm tội cố ư. Ví dụ luật ghi trong khi ẩu đả làm chết người, nếu kẻ làm chết người chứng minh được rằng không cố ư giết người th́ sẽ không bị tử h́nh, chỉ bị phạt tiền.

d. Về tố tụng:
Tố tụng là thủ tục giải quyết các vụ án. Bộ luật đă có nhiều qui định về thủ tục bắt giữ, giam cầm, qui định những nguyên tắc khi xét xử như xét xử phải công khai, phải coi trọng chứng cứ, phán quyết phải được thi hành nghiêm minh...
Có hai qui định rất đặc thù về tố tụng của Bộ luật này:
Thứ nhất, qui định về trách nhiệm của thẩm phán.
”Nếu thẩm phán xử một vụ kiện mà ra phán quyết bằng văn bản, nếu sau đó phát hiện lỗi trong văn bản là do lỗi của thẩm phán, thẩm phán sẽ phải trả 12 lần giá trị tiền phạt mà ông ta đă yêu cầu bồi thường trong vụ kiện, đồng thời ông ta sẽ bị buộc phải rời khỏi ghế thẩm phán vĩnh viễn và không bao giờ có thể trở thành thẩm phán lần nữa”
(Nguyên bản Tiếng Anh để bạn đọc tiện tra cứu: If a judge try a case, reach a decision, and present his judgment in writing; if later error shall appear in his decision, and it be through his own fault, then he shall pay 12 times the fines set by him in the case, and he shall be publicly removed from the judge’s bench, and never again shall be sit there to render judgement.)
Qui định về trách nhiệm của thẩm phán trong việc xét xử như qui định trên trong một xă hội thể hiện tính giai cấp sâu sắc quả thật là một sự tiến bộ. Qua đó cho thấy, thời kỳ này rất coi trọng công tác xét xử, rất coi trọng trách nhiệm xét xử công bằng của thẩm phán. Sử sách đă ca ngợi rằng ở Lưỡng Hà cổ đại, tinh thần thượng tôn luật pháp và thói quen cầu viện công lư đă ăn sâu vào tác phong sinh hoạt của người dân nơi đây.

Thứ hai, về h́nh thức xét xử
Nếu một người kiện một người khác, bị đơn sẽ phải đi đến một ḍng sông và nhảy xuống, nếu anh ta ch́m, bị ḍng nước cuốn đi, nguyên đơn sẽ sở hữu nhà của bị đơn. Nhưng ngược lại, nếu ḍng sông chứng minh rằng bị đơn là không có tội, tức là anh ta c̣n sống sót, th́ nguyên đơn sẽ bị giết chết, và bị đơn sẽ sở hữu nhà của nguyên đơn”
(Nguyên bản Tiếng Anh để bạn đọc tiện tra cứu: If anyone bring an accusation against a man, and the accused go to the river and leap into the river, if he sink in the river, the accuser shall take possession of his house. But if the river prove that the accused is not guilty, and he escape unhurt, then he who had brought the accusation shall be put to death, while he who leaped into the river shall take the possession of the house that had belonged to his accuser)
Có một thực tế là người cổ đại bất lực trước tự nhiên, bất lực trước việc giải thích các hiện tượng tự nhiên và xă hội, hơn nữa không phải lúc nào cũng dễ dàng có được chứng cứ xác thực khi khoa học chưa phát triển, nên ta thấy cách thức xử lư có vẻ như bất b́nh thường kia lại trở nên rất dễ hiểu, dễ hiểu đến mức b́nh thường và tự nhiên trong quan niệm, trong cách hành xử của người dân Lưỡng Hà cổ đại. Họ tin rằng đấng tối cao đă sáng tạo muôn loài, sáng tạo nên nhà nước và luật pháp nên họ chấp nhận điều đó, và tin rằng thần thánh mới là người công minh nhất, thần thánh mới là người cho họ biết thế nào nào là đúng, thế nào là sai, thế nào là công bằng hay không công bằng.
Phần kết luận, Hammurabi khẳng định lại mục đích của Bộ luật và tuyên bố sẽ trừng phạt bất cứ ai vi phạm Bộ luật này: “Để cho kẻ mạnh không hà hiếp kẻ yếu; để cho những người cô quả có thể nương tựa ở thành Babilon…; để cho sự tuyên án trong nước tiện việc quyết định; để cho những kẻ thiệt tḥi được tŕnh bày lẽ phải…Nếu kẻ nào thi hành triệt để bộ luật này th́ sẽ được các thần phù hộ, trái lại nếu người nào không nghiêm chỉnh thi hành hoặc sửa đổi bộ luật th́ sẽ bị thần linh trừng phạt”.
Bộ luật Hammurabi là Bộ luật thành văn cổ nhất trên thế giới, là một trong những thành tựu có giá trị bậc nhất của lịch sử văn minh cổ đại. Giá trị của Bộ luật này cho đến nay vẫn tiếp tục được nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu, khai thác và kế thừa. Bộ luật đă xây dựng rất công phu, điều chỉnh và phản ánh một cách sinh động các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá xă hội của vương quốc Babilon. Bộ luật không chỉ có giá trị về nghiên cứu pháp lư mà c̣n là nguồn cứ liệu lịch sử phong phú, quí giá để nghịên cứu nền văn hoá Babilon - Lưỡng Hà cổ đại.
Vượt ra khỏi hạn chế về tính giai cấp, có thể thấy chứa đựng trong nhiều qui phạm của Bộ luật dù ở dạng thức sơ khai nhất, cổ xưa nhất vẫn hằng chứa đậm nét những giá trị tiến bộ, nhân văn, đặc biệt là về kĩ thuật lập pháp trong các qui định từ hôn nhân gia đ́nh đến thừa kế, và qui định về hợp đồng. Gấp Bộ luật lại, nh́n vào cuộc sống và suy ngẫm ta thấy không khỏi ngạc nhiên và trân trọng những giá trị lịch sử pháp lư của Bộ luật, những qui định ra đời cách đây gần 4000 năm vẫn chứa đựng nhiều giá trị đương đại đáng kế thừa, và phát triển./.

[1] Hiện nay có nhiều bản dịch khác nhau từ Tiếng nước ngoài. Ví dụ như bản dịch của Nguyễn Gia Phu dịch theo bản Trung Văn của Nhật Trị in trong “Thế giới sử tư liệu tùng san, sơ tập” được công bố khá rộng răi trong cuốn Lịch sử thế giới cổ đại, NXB Giáo dục do Lương Ninh (Chủ biên). Khi viết phần này, tác giả chủ yếu tham khảo bản dịch từ Website của Trường Đại học Yale của Hoa kỳ do tác giả L. W. King dịch từ nguyên bản: http://www.yale.edu/lawweb/avalon/medieval/hamframe.htm

Cafe
24-04-2010, 02:05 PM
#2

bí ẩn kim tự tháp

trong 7 kỳ quan của thế giới cổ đại, th́ kim tự tháp ai cập được xếp hàng đầụ trong quần thể kim tự tháp ai cập th́ đứng đầu lại là lăng mộ của quốc vương Đệ tứ - kim tự tháp khê Ốp (khéóp) là tráng lệ nhất.

Kim tự tháp khê Ốp được xây vào năm 2600 trước công nguyên, gồm 2,300,000 phiến đá cực lớn, nặng trung b́nh 2.5 tấn xếp chồn lên nhau. Tổng trọng lượng của kim tự tháp là 60,000,000 tấn, tương đương với độ cao của ṭa nhà cao chọc trời 40 tầng. Với con mắt người hiện đại th́ bản thân nó đă trở thành một câu hỏi cực lớn và một dấu than lớn làm day dứt biết bao thế hê..

Kim thự tháp khê Ốp chứa hàng loạt các câu hỏi khiến ta không thể không bàn tới.

*thứ nhất: Kim tự tháp được kết cấu và thiết kế với các số liệu vô cùng chính xác. Tháp cao 146.5 x 1000 triệu th́ tương đương với khoảng cách từ trái Đất tới mặt trời, lấy 2 lần chiều cao tháp chia cho diện tích tháp 52,900 mét vuông th́ sẽ là số p (3.14159). Đường kinh tuyến đi qua tháp vừa đúng là đường phân chia hai nửa bằng nhau giữa lục địa và hải dương của quả đất. C̣n b́nh phương chiều cao tháp th́ bằng diện tích h́nh tam giác của một mặt tháp. Nếu kéo dài đường góc đối h́nh vuông góc đáy tháp th́ vừa đúng bao gồm vùng tam giác châu cửa sông nilẹ c̣n kéo dài đường chia đôi hướng dọc từ điểm đỉnh tam giác sẽ đi qua đường chia đôi của chau thổ này .

*thứ hai: Đo lường kiến trúc vô cùng chính xác. Tất cả đầu đá mặt tháp đều được xếp chồng lên nhau và dựa vào trọng lượng của bản thân để liên kết mà không dùng bất cứ một chất kết dính nàọ các khe hở ở bề mặt thân tháp và đầu đá xếp khít với nhau tới mức một lưỡi dao cực sắc, cực mỏng cũng không thể luồn vào được. Chênh lệch độ cao ở góc ddông nam và góc tây bắc chỉ tới 1.27 cm. Sai lệch chiều dài các cạnh đáy cũng không quá 20 cm, dung sai không quá 9/1000.

*thứ ba: Có nhiều lực thần bí siêu tự nhiên. Bên trong kim tự tháp như một chiếc tủ lạnh cực lớn. Nếu đem sữa tươi, nước quả, hoa quả, thịt tươi đặt vào trong đó vài ngày vẫn giữ được như mớị nếu gieo mần các loại sản phẩm ở trong kim tự tháp th́ thời gian sinh trưởng ngắn hơn vài lần so với gieo trồng ở ngoài tháp mà sản lương lại cao, chắc hạt. Các vật bằng kim loại đang có các vết đốm gỉ nếu đặt trong kim tự tháp một thời gian sẽ trở lên sáng bóng lấp lánh. Ngoài ra trong tháp c̣n có hiệu ứng gây tê và chống thối rữạ người nao suy nhược thần kinh, nếu nằm ngủ trong tháp sẽ nhanh chóng đi vào giấc mô.ng. Người khó chịu toàn thân, bao gồm đau đầu, đau răng, phong thấp, viêm khớp ... Khi vào tháp sẽ cảm thấy dễ chịu, tinh thần sảng khoái, đau đớn tiêu tán. Những cây gỗ c̣n ở trong tháp đều được thoát (bay) nước tự nhiên và diệt khuẩn, có thể tồn trữ đă vài ngàn năm mà vẫn không bị mục.

Các nhà khoa học phát hiện trong kim tự tháp thực tế có một loại khoảng không dao động viba tương đối tốt. Trong khoang này, hiệu ứng viba (kể cả hiệu ứng nhiệt) được phát huy một cách đầy đủ. Ddiều này làm cho gỗ trong tháp được bảo quản lâu dàị

các nhà khoa học c̣n phát hiện trong tháp c̣n tồn tại sóng vũ trụ rất lớn, có ảnh hưởng với mức độ khác nhau ở đầu và cơ thể ngườị vậy sóng vũ trụ trong tháp từ đâu tớỉ các nhà nghiên cứu cho rằng: Trong quần thể kim tự tháp ai cập (gần trên 70 tháp nằm rải rác vùng chi-tát, hai bên vờ hạ lưu sông nil và một khu rộng lớn ở phía nam) th́ tháp nào cũng đều có hướng chính nam đi bắc và không hề có sai lê.ch. Theo hướng này th́ hoàn toàn đúng với đường sức từ của trái đất, như vậy sẽ làm cho đường sức từ đi qua tháp được nhiều nhất. Bên trong tháp c̣n có đá hoa cương thu nhận sóng vũ trụ và có khả năng tích điện. Bên ngoài tháp lại là đá vôi không thể thu nhận, tồn trữ các loại điện năng và sóng vũ tru.. Như vậy đá hoa cương trong tháp sau khi đă tiếp nhận, tồn trữ từ năng quả đất và sóng vũ trụ th́ dùng đá vôi ở bên ngoài tháp đề pḥng khuếch tán. Chính v́ vậy, trải qua trên 4000 năm, bên trong kim tự tháp đă thu nhận và tồn trữ một lượng rất lớn sóng vũ trụ và năng lượng địa cầụ từ những gợi ư về kết cấu của kim tự tháp ai cập, hiện nay đă có nhiều nước xây dựng các vật kiến trúc theo kiểu kim tự tháp với nhiều h́nh dáng khác nhau để tiến hành thử nghiệm. Có nói th́ xây kho theo đúng kiểu kim tự tháp dùng để bảo quản lâu dài lương tực hoặc là các kho chứa vật dự trữ chiến tranh.

Vậy thi ai là người xây kim tự tháp lớn nhất (kim tự tháp khê Ốp) và hoàn thành công tŕnh vĩ đại này như thế nàỏ ngày nay, mọi người không ai nghi ngờ ǵ về vị vua thứ 4 của ai cập cỗ là người đă đề xướng và xây nên kim tự tháp lớn nhất. V́ hầu như toàn bộ các băn bia và sách cổ của ai cập lưu giữ đều nói khá rơ việc nàỵ nhưng có nhà nghiên cứu lại cho rằng: NẾu theo sức lao động của người đương thời th́ kim tự tháp lớn cơ hồ không thể xây dựng được xong trong thời gian cuộc đời khê Ốp. Giáp định ở đây có khả năng khê ốp ngụy tạo ra các văn bia và thư tịch về người xây dựng kim tự tháp lớn nhằm đề cao cái uy cái đức và công lao của ông tạ thủ pháp này vào thời cổ không phải là hiếm thấỵ trong thư viện bô ddéc li an đại học oxford phía bắt nước anh có lưu giữ một bản thảo cho thấy: Kim tự tháp lớn là do quốc vương sô lít cách thời khê ốp khá xa đề xướng xây dư.ng.

Bản thảo này là di cảp của ma si út - nhà văn người kô phút ai cập. Ttác giả đă qua một thời gian dài nghiên cứu điều tra cho biết: Trước đại hồng thủy, nhà vua hiền su - bít trị v́ ai cập đă từng ra lệnh cho tín đồ của ḿnh là ghi chép tất cả những học vấn của ḿnh lại và lưu cất trong kim tự tháp. Tác giả c̣n vạch rơ rằng theo truyền thuyết của người kô phút th́ kim tự tháp thực ra là được xây dựng vào trước thời đại hồng thủỵ như vậy, nó có trước vài trăm năm thời khê ốp. Trong cuốc lịch sử (quyển 2) của nhà sử học hy lạp cổ hêrodotos xác thực là có sự suy diễn nàỵ bây giờ chúng ta hăy t́m hiê/u số lượng người tham gia xây dựng tháp và thời gian xây dựng nó thực tế phải mất bao lâủ

theo herodotos (ông đă đến ai cập thế kỷ 5 trước công nguyên và đă khảo sát thực địa kim tự tháp) th́ việc xây dựng đại kim tự tháp này phải mất tổng cộng 30 năm. Thợ xây được chia thành từng kíp 100,000 ngườị mỗi kíp thợ phục dịch 3 tháng, luôn phiên thay đổị nhưng theo một nhà nghiên cứu khác lại cho rằng: Theo điều kiện đương thời, chưa có cần cẩu và các máy móc vận chuyển hiện đại, chỉ có thể dựa vào con lăn, đ̣n bẩy và các dụng cụ thủ công khác. Vậy th́ làm thế nào đê/ đưa khối đá lớn nặng 2.5 tấn tới độ cao trên 100 mét? Quá tŕnh thao tác sẽ phải như sau: Trươc' hết phải xây xong lớp mặt nền, sau đó đắp dốc bằng đất có độ cao bằng tầng thứ nhâ"t rồi trượt theo dốc đâ"t mà kéo đưa đá lên tầng 2 ... Khi xây xong tháp mới chuyê/n đất đi để lộ kim tự tháp rạ tính toán theo cách làm này th́ mỗi ngày thực tế chỉ có thể xâyđược 10 khối đá, mà toàn bộ kim tự tháp dùng tới 2,300,000 khối đá lớn th́ phải dùng tới 230,000 ngày tức là 630 năm. Do đó, tháp xây xong mà su lít vẫn chưa nh́n thấp c̣n khê ốp th́ ngôn ăn sẵn mà được hưởng. Về việc này, lại có học giả cho rằng: Thời bấy giờ gỗ ở ai cập rất hiếm, mà phần nhiều là cây co.. Người ai cập lại không biết chặt đẽo làm thành côn lăn. Hơn nữa, quả cọ lại là thực phẩm không thể thiếu được của ho.. Thân cọ khô và lá cọ là vật liệu duy nhất dùng để che nắng, chống nóng của dân vùng nàỵ nói về công cụ vận chuyển để xây tháp là con lăn th́ người ai cập cổ chỉ có thể nhập khẩu gỗ về, mà khả năng của nước ai cập thời đó liệu có làm nổi không? Ngoài ra muốn nhập khẩu được gỗ th́ phải có một đội thuyền khả quan, phải chặt gỗ từ núi ali, chuyển ngược ḍng sông nil, tới cai-rô, chi-tạ vào thời xây tháp, người ai cập lại chưa có ngựa và xe ngựạ măi tới vương triều thứ 17 - khoảng năm 1600 trước cn th́ ngựa và xe ngựa mới thấy có ở ai cập. Vậy th́ với số lượng gỗ lớn như vậy, sẽ không có cách nào đưa được tới cai-rô, chi-ta ...

Nhà học giả punĐdan-ni ken đề xuất: Kim tự tháp ai cập, đặc biệt là kim tự tháp khê ốp là do người ngoài hành tinh thực hiện. O6ng cho rằng ai cập cổ xưa chưa có kỷ thật đo lường, vùng này lại thiếu đá và gỗ, không thể làm được một công tŕnh kiến trúc cao to như vậỵ ông c̣n nhất mạnh: Muốn xây ngọn kim tự tháp như vậy th́ ngoài số thợ có mặt tại công trường xây tháp, c̣n phải có một đội ngũ hậu cần phục vụ rất lớn. Nếu kể cả thành viên trong gia đ́nh đi theo th́ cần phải có tới 500,000,000 người mới ứng phó được. Nhưng theo suy đoán số nhân khẩu vào năm 2600 trước cn th́ thế giới lúc bấy giờ chưa vượt quá 20,000,000 người (về số liệu này tuyệt đại đa số các chuyên gia đều công nhận như vậy). V́ thế, Đan-ni-ken đoán rằng: Nhất định là có người ngoài hành tinh mang theo dụng cụ đo khoảng cách bằng tia laser, máy tính điện tử và cần cẩu ... Hạ xuống vùng hạ lưu sông nil để xây dựng kim tự tháp.

Theo các báo cáo gần đây, nhóm khảo cổ học của tiến sĩ pon-gia-lu phát hiện một đố.ng vật đóng băng trong một buồng kín ở kim tự tháp. Họ đă dùng các máy móc thám trắc hiện đại để đo kiểm phát hiện thấy con vậy này có nhịp tim và báo hiệu có huyết áp. Tiến sĩ ga-ba cho rằng: Con vật này vẫn là sinh vật có sức sống, tin rằng nó đă tồn tại 5000 năm trước. Ngoài ra được biết trong pḥng kín (mật thất) này c̣n có một cuốn sách ghi chép bằng chữ tượng h́nh. Cuốn sách có ghi cách đây 500 năm về trước có một cỗ xe "thiên mă" đi vào gần thành cai-rô để lại một người "sinh hoàn giả". Ddây là một nhà thiết kế, khả năng người này đă thiết kế ra kim tự tháp. Kim tự tháp này dùng làm tháp tín hiệu thông báo cho đồng loại ở bầu trời tới cứu viện.

Nhà hóa học đương đại người pháp là da-viđu-uyt, lại có một cách giải thích khác. ông cho rằng: Những khối đá lớn xây dựng kim tự tháp là những khối đá nhân tạo đổ ép lại, không phải là đá thiên nhiên, ông đă lấy mẫu các viên đá nhỏ thu được ở kim tự tháp đem về hoá nghiệm. Kết quả cho thấy những viên đá này được làm từ những mỏ đá vỏ ṣ. V́ thế, thời bấy giờ rất có khả năng sử dụng phương pháp "hóa chỉnh vi linh" tức là trước hết cho bê tông đă trộn vào các khoang sọt rồi mới đưa lên kim tự tháp đang xây, từ đấy mới đúc từng khối một, từng tần từng tầng cao dần. Với giả thuyết này cũng có thể là lời giải đáp v́ sao các mối ghép giữa các viên đá với nhau lại khít như vậỵ mặt khác, Đa vi du uưt c̣n dự đoán rằng: Số no lệ lao động trên công trường vào thời ấy không quá 1500 người mà không phải là 100,000 người như heroestos nêu rạ lời giải thích này hoàn toàn thống nhất với quan điểm của đại đa số người trước đây, cho rằng người ai cập cổ hoàn toàn có đủ khả năng tự thiết kế và hoàn thành việc xây dựng kim tự tháp.

#3

văn minh lưỡng hà cổ đại

nội dung

i - tổng quan về lưỡng hà cổ đại
1. Địa lư và cư dân
2. Các quốc gia lưỡng hà cổ đại
nhà nước của người xume
accat
vương triều của ua
cổ babilon
tân babilon và ba tư

ii - những thành tựu chủ yếu của nền văn minh lưỡng hà
1. Chữ viết
2. Văn học
3. Tôn giáo
4. Luật pháp
5. Kiến trúc và điêu khắc
6. Khoa học tự nhiên
toán học thiên văn học y học

i - tổng quan về lưỡng hà cổ đại

1. Địa lư và cư dân

lưỡng hà (mésopotamie) nghĩa là miền giữa hai sông, bắt nguồn từ tiếng hy lạp mêđốt là ở giữa và pôtamốt là sông. Hai sông đó là sông tigrơ ở phía Đông và ơphrát ở phía tây. Cả hai sông này đều bắt nguồn từ miền rừng núi acmênia chảy qua lănh thổ nướ irắc ngày nay rồi đổ ra vịnh ba tư (pécxích).

Về mùa xuân, tuyết ở cao nguyên acmênia tan làm nước ở hai sông tigrơ và ơphrát dâng cao gây nên lũ lụt làm ngập cả một vùng rộng lớn. Nhưng chính nhờ nước lụt, đất đai ở đây không ngừng được bồi đắp và trở nên màu mỡ. Lượng phù sa ở đây nhiều đến nỗi, qua mấy ngh́n năm, cả một vùng biển rộng lớn ở cửa sông này đă trở thành đồng bằng, bờ biển của vịnh ba tư phải lùi xa gần 200km. Cũng v́ vậy, hai ḍng sông tigrơ và ơphrát vốn đổ ra biển bằng hai cửa sông khác nhau đă nhập lại thành một ḍng trước khi ra biển. Chính nhờ có đất đai ph́ nhiêu như vậy nên cũng như ai cập cổ đại, khi công cụ sản xuất c̣n tương đối thô sơ, kinh tế ở đây vẫn có điều kiện phát triển; do đó đă sớm bước vào xă hội văn minh.

Trong khi lưỡng hà là một vùng màu mỡ thuận lợi cho cuộc sống của con người như vậy th́ về địa h́nh, lưỡng hà là một vùng hoàn toàn để ngỏ ở mọi phía, không có những biên giới hiểm trở bảo vệ, v́ vậy trong mấy ngàn năm lịch sử, vùng này đă trở thành nơi tranh giành của nhiều tộc người khác nhau, dẫn đến sự hưng vong của nhiều quốc gia hùng mạnh một thời.

Về tài nguyên, lưỡng hà hiếm đá quư và kim loại, nhưng lại có một loại đất sét rất tốt, v́ vậy đất sét đă trở thành vật liệu chủ yếu của ngành kiến trúc, chất liệu để viết, thậm chí đất sét c̣n được đưa vào các truyện huyền thoại.

Cư dân xưa nhất ở lưỡng hà là người xume. Họ từ trung á di cư đến miền nam lưỡng hà vào khoảng thiên kỷ iv tcn. Tại đây, họ đă lập nên nhiều thành bang như ua, êridu, lagát, urúc v.v...

Đến thiên kỷ iii tcn, người accát thuộc tộc xêmit từ vùng thảo nguyên xyri đến định cư ở miền trung lưỡng hà. Tại đây họ đă lập nên quốc gia accát nổi tiếng một thời. Cuối thiên kỷ iii tcn, người amôrít, một chi nhánh của người xêmít cũng từ phía tây tràn vào lưỡng hà. Chính họ đă thành lập quốc gia babilon nổi tiếng nhất trong lịch sử lưỡng hà cổ đại.

Ngoài ra c̣n có nhiều tộc người khác ở vùng lân cận cũng tràn vào lưỡng hà. Các tộc người trước sau tới lưỡng hà lại đồng hóa với nhau làm cho thành phần cư dân ở đây hết sức phức tạp.

Cafe
24-04-2010, 02:08 PM
Tiếp theo #3



2. Các quốc gia ở Lưỡng Hà cổ đại

Những nhà nước của người Xume

Vào khoảng đầu thiên kỷ III TCN, ở miền Nam Lưỡng Hà, nơi cư trú của người Xume, do sự phát triển của lực lượng sản xuất, do sự phân hóa giàu nghèo, đă xuất hiện nhiều nhà nước nhỏ lấy một thành thị làm trung tâm gọi là những thành bang. Giữa các thành bang ấy thường diễn ra những cuộc đấu tranh để tranh giành đất đai và nguồn nước. Đến giữa thiên kỷ III, trong số các thành bang ở miền Nam Lưỡng Hà, nổi bật nhất là Lagát, nhưng sau đó không lâu, thành bang Umma ở phía Bắc đă đánh bại Lagát. Tiếp đó, Umma c̣n chinh phục được nhiều thành bang khác và thống nhất miền Nam Lưỡng Hà (cũng gọi là vùng Xume).

·Accat

Thành bang Accat do một chi nhánh người Xêmit thành lập ở phía Bắc vùng Xume. Đến thời vua Xacgôn (2369-2314 TCN), Accat trở thành một quốc gia hùng mạnh. Xacgôn đă tấn công và chinh phục được toàn bộ vùng Xume và như vậy lần đầu tiên đă thống nhất cả vùng Lưỡng Hà. Tiếp đó, Accat c̣n chiếm được các khu vực xung quanh thành lập một quốc gia lớn mạnh ở Tây á. Xacgôn tự xưng là: "vua của bốn phương". Tuy vậy, sự hùng mạnh của Accat cũng không duy tŕ được lâu. Đến cuối thế kỷ XXIII TCN, Accat bị người Guti ở Đông Bắc chinh phục và thống trị trong một thời gian khá dài.

·Vương triều III của Ua (2132-2024 TCN)

Sau khi người Guti bị đánh đuổi, quyền thống trị ở Lưỡng Hà chuyển sang tay vương triều III của Ua, một thành bang cổ xưa của Xume. Phạm vi thống trị của vương triều này cũng rất rộng. Ua đă ban bố một bộ luật mà ngày nay đă phát hiện được một số đoạn. Đó là bộ luật cổ nhất trong lịch sử thế giới. Như vậy, dưới thời vương triều III, Ua đă trở thành một nước lớn mạnh ở Lưỡng Hà, nhưng đến cuối thế kỷ XXI TCN th́ bị suy yếu và bị liên quân của Elam (một bộ tộc ở phía Đông) và Mari (một thành bang ở phía Bắc) đánh bại.

·Cổ Babilon

Babilon là một thành phố do người Amôrit thành lập ở trung tâm Lưỡng Hà. Trong thời kỳ đầu, Babilon c̣n tương đối yếu, nhưng đến nửa đầu thế kỷ XVIII TCN, dưới thời vua Hammurabi (1792-1750 TCN), Babilon trở thành quốc gia hùng mạnh nổi tiếng nhất trong lịch sử Lưỡng Hà cổ đại. Hammurabi đă lần lượt đánh bại các thành bang xung quanh, thống nhất được hầu hết vùng Lưỡng Hà. Trên cơ sở đó, ông đă xây dựng bộ máy nhà nước chuyên chế tập quyền trung ương. Đặc biệt, ông đă ban hành một bộ luật gọi là bộ luật Hammurabi. Đây là một bộ luật cổ được giữ lại tương đối nguyên ven.

Đến thời Babilon, kinh tế Lưỡng Hà có những tiến bộ rất đáng kể. Công cụ đồng thau được dùng phổ biến, sắt cũng đă xuất hiện nhưng c̣n tương đối hiếm. Cư dân Lưỡng Hà đă biết sử dụng cày có lưỡi đồng thau do ḅ kéo. Hơn nữa, họ c̣n biết sử dụng loại cày có lắp bộ phận gieo hạt.

Như vậy dưới thời Hammurabi, Babilon không những được ổn định về chính trị mà kinh tế và văn hóa cũng rất phát triển. Nhưng sau khi Hammurabi chết, Babilon bị suy yếu dần. Trong ṿng 1000 năm, t́nh h́nh Babilon rất rối ren, đồng thời nhiều lần bị ngoại tộc tấn công và thống trị. Đến năm 732 TCN, Babilon bị một quốc gia hùng mạnh ở phía Bắc là Atxiri xâm chiếm, đến năm 729 TCN th́ trở thành một bộ phận của Atxiri.

·Tân Babilon và Ba Tư

Từ giữa thế kỷ VII TCN, Atxiri bắt đầu suy yếu. Nhân t́nh h́nh ấy, năm 626 TCN, một viên tướng người Canđê, một chi nhánh của tộc Xêmit tên là Nabôpôlaxa, người được cử làm Tổng đốc của Atxiri ở miền Nam Lưỡng Hà đă tuyên bố Babilon độc lập. Để phân biệt với cổ Babilon, quốc gia này được gọi là Tân Babilon.

Ngay sau đó, Tân Babilon liên minh với nước Mêđi ở phía Đông Bắc cùng tấn công Atxiri. Năm 605, Atxiri diệt vong. Đất đai của Atxiri bị chia làm hai phần: nửa phía Bắc thuộc về Mêđi, nửa phía Nam thuộc về Babilon. Để tăng thêm t́nh hữu nghị giữa hai nước đồng minh, Nabôpôlaxa đă hỏi công chúa Mêđi cho con trai của ḿnh là Nabusôđênôxo. Năm 604 TCN, Nabôpôlaxa chết, Nabuxôđônôxo lên nối ngôi. Đây là thời kỳ cường thịnh nhất của Tân Babilon. Chính Nabusôđônôxo đă ra lệnh xây vườn hoa trên không nổi tiếng.

Năm 562 TCN, Nabusôđônôxo chết. Từ đó t́nh h́nh nội bộ Tân Babilon không được ổn định. Trong khi đó, ở Iran bắt đầu xuất hiện nước Ba Tư hùng mạnh. Năm 550 TCN, Ba Tư đánh bại Mêđi, Babilon cũng trở thành mục tiêu chinh phục của Ba Tư. Năm 538 TCN, quân Ba Tư tấn công và chiếm được thành Babilon. Tân Babilon cũng trở thành một bộ phận của đế quốc Ba Tư.

Năm 328 TCN, đế quốc Ba Tư bị Alêchxăngđrơ Makêđônia tiêu diệt. Cả Tây á bị nhập vào đế quốc Makêđônia. Sau khi Alêchxăngđrơ chết, đế quốc Makêđônia bị phân chia, Babilon nằm trong vương quốc của Xêlơcut, một tướng của Alêchxăngđrơ.



II - Những thành tựu chủ yếu của văn minh Lưỡng Hà cổ đại

1. Chữ viết

Chữ viết của Lưỡng Hà đầu tiên do người Xume sáng tạo vào cuối thiên kỷ IV TCN. Trong thời kỳ đầu, chữ viết của Lưỡng Hà cũng là chữ tượng h́nh. Ví dụ, muốn viết các chữ chim, cá, lúa, nước th́ vẽ h́nh con chim, con cá, bông lúa, làn sóng. Dần dần, các h́nh vẽ được đơn giản hóa tức là không phải vẽ toàn bộ sự vật mà chỉ vẽ một bộ phận tiêu biểu mà thôi. Ví dụ chữ trời chỉ vẽ một ngôi sao, chữ ḅ mộng chỉ vẽ cái đầu ḅ với hai sừng dài.

Trên cơ sở tượng h́nh, để biểu thị các khái niệm, động tác... người ta phải dùng phương pháp biểu ư. Ví dụ, muốn viết chữ khóc th́ vẽ con mắt và nước, đẻ th́ vẽ chim và trứng, ḅ rừng th́ vẽ ḅ và núi. Lúc đầu h́nh cái cày vừa có nghĩa là cái cày, lại có nghĩa là người cày. Để phân biệt, bên cạnh h́nh cái cày thêm h́nh gỗ th́ có nghĩa là cái cày, bên cạnh h́nh cái cày có thêm h́nh người th́ có nghĩa là người cày.

Người ta c̣n dùng h́nh vẽ để mượn âm thanh. Ví dụ, muốn viết âm xum th́ vẽ bó hành, v́ bó hành có âm là xum. Các h́nh vẽ chỉ âm tiết c̣n kết hợp với một số h́nh khác để phân biệt các khái niêm. Ví dụ, h́nh bàn chân kết hợp với âm tiết NA là "đi", h́nh bàn chân kết hợp với ân BA là "đứng", chữ hài thanh c̣n dùng để biểu đạt nhiều loại từ khác như giới từ, phó từ... Nhờ có chữ hài thanh, số chữ tượng h́nh càng ngày càng ít đi. Lúc đầu có khoảng 2000 chữ, nhưng đến thời Lagát (thế kỷ XXIX TCN) chỉ c̣n lại khoảng 600 chữ.

Chất liệu dùng để viết là các tấm đất sét c̣n ướt và những cái que vót nhọn. Viết trên đất sét chỉ thích hợp với những nét thẳng và ngắn; v́ vậy những nét dài được thay bằng nhiều nét ngắn và nét cong th́ thay bằng nét thẳng. Ví dụ, cái đầu ḅ được viết thành một h́nh tam giác đỉnh chúc xuống dưới, phía trên có hai đoạn thẳng biểu thị hai cái sừng. Đồng thời, do dùng que viết trên đất sét nên chỗ mới ấn vào th́ nét to, chỗ rút bút ra th́ nét nhỏ, do đó các nét đều giống h́nh cái nêm. Do sự bố trí khác nhau của các nét ấy mà tạo thành các chữ khác nhau. Loại chữ này được gọi là chữ tiết h́nh tức là chữ h́nh nêm.

Tổng số chữ tiết h́nh không đến 600 chữ, trong đó thường dùng chỉ có 300 chữ, nhưng mỗi chữ thường có vài nghĩa.

Chữ tiết h́nh cũng do người Xume phát minh, về sau, người Accat, người Babilon, người Atxiri và các tộc khác ở Tây á cũng dùng chữ tiết h́nh để viết ngôn ngữ của ḿnh. Đến khoảng năm 1500 TCN, chữ tiết h́nh thành văn tự ngoại giao quốc tế, ngay Ai Cập khi kư điều ước hoặc các văn kiện ngoại giao cũng dùng loại chữ này.

Về sau người Phênixi và người Ba Tư đă cải tiến chữ tiết h́nh thành vần chữ cái. Tuy vậy, ở Lưỡng Hà, các tăng lữ, các quan ṭa và các nhà chiêm tinh vẫn dùng chữ tiết h́nh đến trước, sau công nguyên mới bị chữ phiên âm hoàn toàn thay thế.

Lúc đầu chữ tiết h́nh được viết từ trên xuống dưới và từ phải sang trái. Về sau, v́ viết như thế có một điều bất tiện là khi viết đến ḍng thứ hai th́ tay xóa mất ḍng thứ nhất vừa viết. V́ vậy, người ta đổi thành cách viết từ trái sang phải theo hàng ngang, đồng thời mỗi chữ cũng quay 90 độ. Sau khi viết xong quay tấm đất sét lại th́ vẫn thành viết từ trên xuống dưới và từ phải sang trái. Nếu sách gồm nhiều trang th́ mỗi tấm phải có tên sách và số trang, đồng thời đầu trang sau phải nhắc lại ḍng cuối cùng của trang trước. Sau khi viết xong, muốn bảo tồn lâu dài th́ cho vào lửa nung. Loại "giấy" này có ưu điểm là không bị mục nát, mối mọt, không bị cháy, nhưng lại có nhược điểm là dễ vỡ và quá nặng. Một quyển sách 50 trang th́ phải nặng đến 50kg. Ngày nay ở Ninivơ, kinh đô của Atxiri ngày xưa đă phát hiện được trên 20.000 tấm đất sét như vậy, kể cả ở các nơi khác đă phát hiện được mấy trăm ngàn tấm.

Từ cuối thế kỷ thứ XVIII, một học giả Đan mạch tên là Cacxten Nibua bắt đầu nghiên cứu cách đọc chữ tiết h́nh trên một minh văn do một thương nhân Ư đưa từ Ba Tư về châu Âu nhưng chưa thành công.

Năm 1802, một giáo viên trung học người Đức tên là Grôtêphen. (Grotefend) đă đọc được hai đoạn minh văn.

Grôtephen đă chọn hai đoạn minh văn có đặc điểm là trong đó có những cụm từ giống nhau. Ông đoán đó là tên Hoàng đế, tiếp đến là danh hiệu, tiếp đến là tên cha và tên triều đại. Kết hợp với việc tra tên các vua Ba Tư trong lịch sử, Grôtêphen đă đọc được:

+ Đoạn 1: Xecxet, hoàng đế vĩ đại, hoàng đế trong các hoàng đế, con trai của hoàng đế Đariút, Akêmênit.

+ Đoạn 2: Đariút, hoàng đế vĩ đại, hoàng đế trong các hoàng đế, con trai của Hixtapơ, Akêmênit.

Grôtêphen đă đọc được 12 chữ trong bảng vần chữ cái của Ba Tư, về sau được chứng minh là 9 chữ trong số đó hoàn toàn chính xác. Như vậy, Grôtêphen đă đặt cơ sở cho việc đọc chữ tiết h́nh.

Năm 1835, nhà du lịch người Anh Rolinxơn (Rawlinson) phát hiện được một bản minh văn khác trên vách đá, cao 4m, dài 20m gồm 400 hàng. Ông đă bỏ ra mấy năm để chép bản minh văn ấy. Việc đọc chữ tiết h́nh được tiến triển thêm một bước.

Năm 1857, bốn độc giả đă độc lập nghiên cứu nhưng đă cùng đọc được một đoạn minh văn chữ tiết h́nh Atxiri. V́ vậy năm này được coi là năm khai sinh môn Atxiri học. Từ đó cả kho tàng tư liệu của khu vực Lưỡng Hà thuộc các lĩnh vực văn học, lịch sử, pháp luật, kinh tế, khoa học... được dịch ra ngôn ngữ hiện đại.



2. Văn học

Văn học Lưỡng Hà gồm hai bộ phận chủ yếu là văn học dân gian và sử thi (cũng gọi là anh hùng ca).

Văn học dân gian gồm có cách ngôn, ca dao, truyện ngụ ngôn... Loại văn học này thường phản ánh cuộc sống lao động của nhân dân và cách cư xử ở đời. Loại văn học này thường là văn học truyền miệng; v́ vậy ngày nay ta biết được không nhiều.

Sử thi ra đời từ thời Xume, đến thời Babilon chiếm một vị trí rất quan trọng. Loại văn học này chịu ảnh hưởng của tôn giáo rất mạnh. Chủ đề của nó thường là ca ngợi các thần. Thuộc về loại này, có các truyện như "khai thiên lập địa", "nạn hồng thủy", "Gingamét" là tương đối tiêu biểu.

Truyện khai thiên lập địa kể rằng trước khi có thế giới chỉ có ác quỷ Tiamát, hóa thân của vực thẳm. Tiamát đă sinh các thần nhưng một khi đă lớn mạnh, các thần không thừa nhận quyền lực của Tiamát nữa. Tiamát bèn tạo ra rất nhiều yêu quái gồm rắn độc, ác long, chó dại, người cá, người dê, người ḅ cạp đến đánh các thần, các thần đều khiếp sợ, chỉ có thần Mácđúc trẻ tuổi dám nghênh chiến. Khi cuộc chiến đấu mới bắt đầu, Tiamác há miệng định nuốt Mácđúc, Mácđúc liền thả gió độc làm Tiamát không ngậm được miệng, tiếp đó Mácđúc bắn trúng tim Tiamát, Tiamát chết. Bọn yêu quái hốt hoảng bỏ chạy nhưng bị mắc vào lưới của Mácđúc đă bủa vây từ trước nên bị bắt làm tù binh. Thế là Mácđúc giành được thắng lợi.

Mácđúc xẻ thi thể Tiamát làm hai nửa, một nửa làm thành trời, một nửa làm thành đất. Trên trời Mácđúc xây dựng cung điện cho các thần, bố trí mặt trời, mặt trăng, các v́ sao. Trên mặt đất, Mácđúc sáng tạo ra cây cối, động vật, ḍng nước, cá. Đến đây các thần bèn xin Mácđúc tạo ra con người để phục dịch các thần. Mácđúc liền dùng đất sét trộn với máu của một thần vốn là bộ hạ của Tiamát để nặn thành người. Nhờ những công tích ấy, Mácđúc được các thần suy tôn là chúa tể của các thần.

Câu chuyện trên được viết bằng thơ và chép trên 7 tấm đất sét.

- Truyện nạn hồng thủy kể rằng v́ muốn tiêu diệt nhân loại, các thần đă tạo ra nạn lụt lớn làm ngập thế giới. Lúc bấy giờ có một kẻ thành kính thờ thần được thần báo trước và bảo ông ta phải đóng một chiếc thuyền lớn để đem theo giống của các loại động vật trên thuyền. Mưa như trút, nhấn ch́m cả mặt đất dưới nước, nhân loại biến thành bùn, mọi sinh mệnh đều bị hủy diệt, chỉ c̣n lại người này cùng các sinh vật trên thuyền. Ông ta tạ ơn các thần và và được các thần cho ông trở thành người bất tử.

Tác phẩm tiêu biểu nhất của văn học Lưỡng Hà cổ đại là sử thi Gingamét. Tác phẩm này vốn là của người Xume, sau được người Babilon cải biên và phát triển. Nội dung chủ yếu như sau:

Gingamét là một kẻ 2/3 là thần 1/3 là người, là vua của Urúc, v́ không có chỗ để sử dụng sức mạnh của ḿnh nên đă áp bức nhân dân Urúc rất cực khổ. Nhân dân Urúc kiện lên các thần, các thần bèn sáng tạo ra chàng dũng sĩ Enkiđu, một người rừng có sức mạnh phi thường. Enkiđu cùng sống chung với các loài thú, cùng ăn cỏ và uống nước suối với chúng.

Enkiđu bảo vệ các thú rừng khỏi bị những người đi săn giết hại, v́ vậy, một người thợ săn đến nhờ Gingamét giúp đỡ để trừ Enkiđu. Gingamét sai một nữ thần nô lệ của đền miếu đến thu phục Enkiđu. T́nh yêu đă làm cho Enkiđu bỏ tính chất hoang dại, rồi Enkiđu cùng người nữ nô lệ ấy về Urúc. Tại đây Gingamét và Enkiđu đă đọ sức với nhau nhưng không phân thắng bại. Hai người kết thành đôi bạn thân.

Lúc bấy giờ ở rừng bách có con yêu quái Humbaba, nó khkông cho dân Urúc đến đây lấy gỗ, hơn nữa nó c̣n bắt nữ thần Ixta đem giấu ở đó. V́ vậy Gingamét và Enkiđu đến rừng bách giết Humbaba.

Thế là hai chàng dũng sĩ đă trừ được hại cho dân Urúc và cứu được thần Ixta. Do vậy, nữ thần Ixta đă bày tỏ t́nh yêu với Gingamét, nhưng Gingamét cho rằng Ixta là một kẻ lẳng lơ nên đă từ chối.

Nhục nhă và tức giận, Ixta đă xin cha ḿnh là thần Anu, vị thần cao nhất ở Lưỡng Hà tạo ra một con ḅ thần rất hung giữ để giết chết Gingamét. Mặc dù con ḅ thần này có cái sừng dài đến 2m, hơi thở của nó một lần có thể làm chết mấy trăm người. Nhưng Enkiđu và Gingamét cũng giết được con ḅ thần ấy.

Hai chàng dũng sĩ trở về Urúc và được nhân dân vui mừng tiếp đón và hết lời ca ngợi.

Trong khi Urúc đang mở hội mừng thắng lợi th́ các thần quyết định Enkiđu phải chết.

Sợ hăi trước cái chết, Gingamét quyết tâm đi t́m thuốc trường sinh bất tử. Trải qua rất nhiều gian nan thử thách Gingamét phải lặn xuống tận đáy biển để lấy thuốc cải lăo hoàn đồng. Nhưng trên đường về, khi đi qua một cái hồ, Gingamét để thuốc tiên lên bờ rồi xuống tắm. Một con rắn ḅ tới nuốt mất thuốc tiên. Chính v́ vậy từ đó rắn già rắn lột. Gingamét thất vọng trở về Urúc.

Gingamét xin các thần ban cho một ơn huệ cuối cùng là cho được gặp linh hồn Enkiđu một lần nữa để hỏi về cuộc sống sau khi chết. Câu chuyện đến đây kết thúc.

Tóm lại, văn học Lưỡng Hà cổ đại đă đạt được những thành tựu đáng kể. Hơn nữa, văn học Lưỡng Hà đă có ảnh hưởng lớn đối với khu vực Tây á. Những truyện khai thiên lập địa sáng tạo ra loài người, Nạn hồng thủy... trong kinh thánh đều bắt nguồn từ nền văn học Lưỡng Hà.


(C̣n tiếp...)

Cafe
24-04-2010, 02:11 PM
Tiếp theo #3




3. Tôn giáo

- Cư dân Lưỡng Hà cổ đại thờ rất nhiều loại thần như thần tự nhiên, thần động vật, thần thực vật, linh hồn người chết... Hơn nữa, trước khi thành lập quốc gia thống nhất, Lưỡng Hà bao gồm nhiều thành bang, mỗi thành bang có những thần riêng nên đối tượng sùng bái của cư dân Lưỡng Hà rất phức tạp, vị trí của các thần trước sau thường khác nhau.

Các thần lực lượng tự nhiên chủ yếu gồm có:

Thần Anu là thần trời. Dần Dần Anu được quan niệm là cha và là vua của các thần.

Thần Enlin là thần đất, cũng được quan niệm là chúa tể của trời đất.

Thần Ea là thần nước, con trưởng của thần Anu, đồng thời là cha của thần Mácđúc.

Mặt Trời, mặt Trăng và tinh tú cũng được coi là các vị thần, v́ vậy thần Mácđúc c̣n được coi là thần sao Mộc, thần Ixta th́ c̣n được coi là thần sao Kim.

Thần Mặt Trời Samát được quan niệm là con của thần Mặt Trăng Xin v́ người Xume cho rằng ngày là do đêm sinh ra. Về sau, thần Samát được coi là thần tư pháp và là thần bảo hộ các vua. Thời Babilon thần Mácđúc, cháu của thần Anu, con trưởng của thần Ea trở thành chúa tể của các thần. v́ vậy, câu đầu tiên của bộ luật Hammurabi viết:

"Thần Anu vĩ đại... cùng với thần Elin, chúa tể của trời đất quyết định vận mệnh của đất nước ban cho Mácđúc, con trưởng của thần Ea quyền thống trị cả nhân loại..."

Ngoài những thần chủ yếu nói trên c̣n có nhiều thần thuộc các lĩnh vực khác nhau như thần sấm sét mưa lụt Ađát, nữ thần sinh đẻ và số mệnh Nintu, thần nông nghiệp Urát, thần trí tuệ Tutu, thần chiến tranh Dababa, thần ôn dịch Ira...

Việc thờ người chết cũng rất được coi trọng. V́ vậy người Lưỡng Hà rất chú ư đến lễ mai táng. Họ quan niệm rằng con người sau khi chết cũng có cuộc sống giống như ở trần thế, do đó, những người giàu có khi mai táng thường chôn theo nô lệ và những thứ quư giá và được xây dựng những lăng mộ lớn. Những người b́nh thường cũng được liệm trong những quan tài bằng đất sét.

Tàn dư của việc sùng bái các dă thú được biểu hiện ở việc thể hiện h́nh tượng các thần:

Thần Mácđúc được biểu hiện bằng con quái vật nửa rắn nửa chim dữ, thần Nécgan, vua của âm phủ được thể hiện thành một con quái vật mặt người nhưng lại có sừng ḅ, trên lưng có lông, có cánh, có ḿnh của sư tử và có bốn chân.

Do sự phát triển của tôn giáo, tầng lớp thầy cúng h́nh thành.

ở Babilon, tầng lớp này chia thành 30 loại, trong đó thầy cúng đọc bùa chú và thầy cúng đoán tương lai được trọng nhất. Thu nhập của thầy cúng rất lớn, v́ nhân dân thường đến các đền miếu dâng nhiều lễ vật. Ví dụ đền thần Anu ở Urúc trong một ngày được dâng 2 con ḅ cái, 1 con bê, 4 con lợn, 50 con cừu lớn, 8 con cừu non, rất nhiều gia cầm và lương thực. Ngoài ra c̣n dâng từ 10-14 li rượu bằng vàng.



4. Luật pháp

Lưỡng Hà là khu vực có những bộ luật sớm nhất. Từ thời vương triều III của thành bang Ua (thế kỷ XXII-XXI TCN), ở Lưỡng Hà đă ban hành bộ luật cổ nhất thế giới nhưng ngày nay chỉ c̣n lại được một số đoạn. Những đoạn ấy nói đến các vấn đề kế thừa tài sản, nuôi con nuôi, địa tô, bảo vệ vườn quả. Trách nhiệm của người chăn nuôi đối với súc vật, sự trừng phạt đối với nô lệ bướng bỉnh và nô lệ chạy trốn.

Vào khoảng thế kỷ XX TCN, nước Etnuna ở Đông Bắc Babilon cũng ban hành một bộ luật. Bộ luật này viết trên hai tấm đất sét, được phát hiện ở Irắc, nay nguyên bản trưng bày ở viện bảo tàng Bátđa. Nội dung bộ luật đề cập đến các vấn đề như hệ thống đo lường giá cả, quan hệ nô lệ, việc vay nợ lăi...

Bộ luật quan trọng nhất ở Lưỡng Hà cổ đại là luật Hammurabi. Bộ luật này khắc trên một bia đá, đội khảo cổ học Pháp phát hiện được ở Xuda (phía Đông Lưỡng Hà), nay trưng bày ở viện bảo tàng Luvrơ (Pháp). Đây là bộ luật cổ sớm nhất hầu như c̣n nguyên vẹn mà ngày nay đă phát hiện được.

Bộ luật Hammurabi chia làm ba phần: Mở đầu, các điều luật và kết luận. Phần mở đầu nói về sứ mạng thiêng liêng, uy quyền của Hammurabi và mục đích ban hành bộ luật:

"V́ hạnh phúc của loài người, thần Anu và thần Enlin đă ra lệnh cho trẫm - Hammurabi, một vị quốc vương quang vinh và ngoan đạo, phát huy chính nghĩa ở đời, diệt trừ những kẻ gian ác không tuân theo pháp luật, làm cho kẻ mạnh không hà hiếp người yếu, làm cho trẫm giống như thần Samát sai xuống dân đen, tỏa ánh sáng khắp mặt đất".

Phần nội dung chính gồm 282 điều luật, đề cập đến các vấn đề như thủ tục kiện tụng các tội h́nh sự như trộm cắp, gây thương tích, hoặc làm chết người, các vấn đề dân sự như hôn nhân, quyền sở hữu tài sản, thuê người làm, quyền lợi và nghĩa vụ của binh lính, chế độ ruộng đất, tô thuế, nô lệ...

Phần kết luật nhắc lại uy quyền, công đức của vua và tính hiệu lực của bộ luật:

"Đây là pháp luật do đức vua Hammurabi bách thắng đặt ra để đem lại hạnh phúc chân chính và đặt nền thống trị nhân từ trong nước".

"Để cho người mạnh không hà hiếp kẻ yếu; để cho những người cô quả có thể nương tựa ở thành Babilon...; để cho sự tuyên án trong nước tiện việc quyết định; để cho những kẻ bị thiệt tḥi được tŕnh bày lẽ phải, trẫm khắc những lời vàng ngọc của trẫm lên cột đá của trẫm, bức tượng của trẫm cũng là bức tượng của một vị vua công bằng".

"Từ nay cho đến ngàn vạn đời sau, các vua trong nước phải tuân theo những lời chính nghĩa của trẫm đă khắc trên cột đá của trẫm, không được thay đổi việc xét xử do trẫm đă quyết định...".

Nếu kẻ nào thi hành triệt để bộ luật này th́ sẽ được các thần phù hộ, trái lại nếu người nào không nghiêm chỉnh thi hành hoặc sửa đổi bộ luật th́ sẽ bị thần linh trừng phạt.



5. Kiến trúc và điêu khắc

Nghệ thuật tạo h́nh của Lưỡng Hà cổ đại bao gồm hai mặt chính là kiến trúc và điêu khắc, trong đó đặc biệt là kiến trúc. Các công tŕnh kiến trúc chủ yếu là tháp, đền miếu, cung điện, thành, vườn hoa. V́ thiếu đá, gỗ, các công tŕnh kiến trúc của Lưỡng Hà đều xây dựng bằng gạch nhưng cũng rất to lớn và hùng vĩ.

Công tŕnh tiêu biểu vào loại sớm là tháp đền của thành bang Ua xây dựng vào khoảng thế kỷ XXII TCN.

Nền tháp là một h́nh chữ nhật dài 62,5m rộng 43m. Tháp gồm 4 tầng, phía trong là lơi đất, phía ngoài xây gạch, mỗi tầng một màu:

+ Tầng 1: màu đen, đại biểu cho thế giới dưới đất.

+ Tầng 2: màu đỏ, đại biểu cho thế giới của con người.

+ Tầng 3: màu xanh, đại biểu cho thiên đường.

+ Tầng 4: màu trắng, đại biểu cho mặt trời. Tầng này đồng thời là một cái đền nhỏ.

Cả tháp có bậc cấp ở bên ngoài để đi lên đến đỉnh. Ngọn tháp này là nơi cúng thần đồng thời là nơi quan sát thiên văn.

Thành tựu kiến trúc nổi bật nhất của Lưỡng Hà là hệ thống công tŕnh gồm: thành quách, cung điện, tháp, vườn hoa của Tân Babilon.

Thành của Tân Babilon ở phía nam thủ đô Bátđa của Irăc ngày nay. Toàn bộ ṭa thành này màu vàng, dài 13,2km, cứ 44m có một tháp canh, tổng cộng có hơn 300 tháp canh. Thành có 3 lớp, chỗ dày nhất là 7,8m, chỗ mỏng nhất là 3,3m. Giữa các lớp thành có hào sâu và tường đất. Thành c̣n có một công tŕnh pḥng ngự bằng nước rất phức tạp. Nếu có địch tấn công th́ có thể tháo nước để làm ngập vùng xung quanh để quân địch không đến gần thành được.

Cửa phía Bắc của thành là nơi thờ thần Ixta nên gọi là cửa Ixta. Cửa có 2 lớp cao 12m. Trên cửa ốp gạch men xanh, trên gạch có nhiều phù điêu h́nh ḅ rừng, rồng với màu sắc rực rỡ. Từ cửa Ixta có một con đường rất thẳng đi đến phía Nam của thành. Đây là con đường để đám rước đi qua trong các dịp tế lễ v́ vậy gọi là "đường thánh". Con đường này được lát bằng những tấm đá vôi vuông mỗi cạnh 1,05m, ở giữa lát đá màu trắng và màu hồng, hai bên lát màu đỏ. Trên đá có khắc chữ tiết h́nh. Hai bên đường thành có hai bức tường có tượng sư tử màu trắng và màu vàng. Cuối con đường thành là đền thờ thần Mácđúc. Trước đền có một cái hồ xây bằng đá cẩm thạch tượng trưng cho cái vực thẳm đă sinh ra thế giới. Bên cạnh đền có một tháp cao. Phía Bắc đền và tháp là cung điện và vườn hoa trên không.

Ngọn tháp gần đền Mácđúc cao 90m, đáy h́nh vuông, mỗi cạnh 91m. Tháp gồm bảy tầng, mỗi tầng có một màu riêng tượng trưng cho bảy ngôi sao. Tầng trên cùng của tháp là một ngôi đền nhỏ xây bằng gạch men xanh nhạt, bốn góc có mạ vàng. Trong đền có tượng thần Mácđúc và các đồ dùng như giừơng, bàn, ghế bằng vàng. Có một bà cốt thường xuyên ở trong đền v́ mọi người tin rằng thần Mácđúc cứ đến đêm lại về ở trong đền. Bà cốt ấy cũng được coi như một vị thần.

Cung điện Tân Babilon rất tráng lệ nhưng ngày nay chỉ biết được rằng riêng pḥng đặt ngai vàng đă rộng đến 1200m2 (60m x 200m), qua đó có thể thấy được qui mô của ṭa cung điện này.

Vườn hoa trên không (c̣n gọi là vườn treo) là một công tŕnh rất độc đáo. Toàn bộ vườn treo thực chất là một vườn hoa được tạo dựng trên một cái đài lớn cao 25m. Cái đài này có 4 lớp, lớp dưới cùng là đá, lớp thứ hai là gạch, lớp thứ ba là những tấm ch́ và lớp trên cùng là đất. Chính trên lớp đất với độ cao 25m này, người ta trồng hoa thơm cỏ lạ tạo thành một vườn thượng uyển.

Tương truyền rằng vườn hoa này là do vua Nabusôđônôxo ra lệnh kiến tạo để chiều ḷng vương hậu của ông vốn là một công chúa nước Mêđi chỉ quen với phong cảnh của đất nước nhiều rừng núi, chứ không thích cảnh đồng bằng ở Babilon. V́ vậy nhà vua phải tạo ra khu rừng nhân tạo cách biệt với khu vực xung quanh để cho vương hậu dạo chơi giải buồn.

Vường hoa trên không và thành Babilon về sau được người Hy Lạp coi là một trong bảy kỳ quan của thế giới.

Toàn bộ các công tŕnh này đă đổ nát, nay chỉ c̣n lại những di tích mà giới khảo cổ học đă phát quật được.

Nghệ thuật điêu khắc gồm tượng và phù điêu. Những tác phẩm tương đối tiêu biểu là "bia diều hâu", "cột đá Naramxin", "Bia luật Hammurabi", các tượng thần Atxiri...

Bia diều hâu là tấm bia ghi sự tích vua Lagát đánh thắng quân Uma vào giữa thiên kỷ III TCN. Trên mặt sau của bia chạm cảnh thần Ninghiêcxu cầm lưới tung vào quân địch, băi chiến trường đầy tử thi, bầy diều hâu bay lượn trên các xác chết; Cảnh vua Lagát đi trên xe ngựa dẫn đầu đội quân được trang bị bằng vũ khí nặng; cảnh chôn cất người chết; cảnh hiến tế tù binh...

Bia luật Hammurabi phần trên có chạm h́nh của Hammurabi đang đứng trang nghiêm trước thần mặt trời và Samát (thần Tư Pháp).

Các tượng thần Atxiri thường cao lớn, quái dị. Tượng cao 3-4m, hoặc là đầu người ḿnh sư tử hoặc là ḿnh ḅ có cánh. Tác phẩm sinh động nhất là sư tử bị bắn.

Mặc dầu cũng có một tác phẩm điêu khắc như trên nhưng nh́n chung về mặt này ở Lưỡng Hà không nổi bật lắm.

6. Khoa học tự nhiên

·Toán học

Thành tựu toán học đầu tiên của cư dân Lưỡng Hà cần nói đến là phép đếm độc đáo của họ. Từ thời Xume, cư dân Lưỡng Hà lấy số 5 làm cơ sở của phép đếm. Việc đó bắt nguồn từ cách đếm số ngón tay của một bàn tay. Muốn đếm số lớn hơn 5 th́ gọi là 5+1, 5+2. Về sau người ta lại lấy 60 làm cơ sở. Có lẽ v́ 60=5 x 12, có thể 5 là 5 ngón tay c̣n 12 là 12 tháng. Đồng thời phép đếm thập tiến vị (lấy 10 làm cơ sở) cũng đă được sử dụng. Cách đếm của cư dân Lưỡng Hà cổ đại c̣n giữ lại đến ngày nay trong cách tính độ (một ṿng tṛn có 3600, 10 có 60 phút, 1 phút có 60 giây) và cách tính phút giây thời gian.

Về số học, người Lưỡng Hà cổ đại đă biết cách làm 4 phép tính, họ c̣n biết lập các bảng cộng trừ nhân chia để giúp các nhân viên hành chính tính toán được nhanh. Họ c̣n biết phân số, luỹ thừa, căn số bậc hai và căn số bậc 3; đồng thời c̣n biết lập bảng căn số. Họ cũng đă biết giải phương tŕnh có 3 ẩn số.

Về h́nh học, xuất phát từ yêu cầu đo đạc ruộng đất, người Lưỡng Hà cổ đại đă biết tính diện tích các h́nh chữ nhật, h́nh tam giác, h́nh thang, h́nh tṛn, nhưng khi tính diện tích và chu vi h́nh tṛn họ chỉ mới biết số p = 3. Họ cũng đă biết tính thể tích h́nh chóp cụt. Ngoài ra, trước Pitago rất lâu, họ đă biết quan hệ giữa ba cạnh của tam giác vuông.

Ngày nay đă phát hiện được một số tác phẩm toán học chép trên 44 tấm đất sét. Có thể coi đây là một bảng tổng hợp các kiến thức toán học của cư dân Lưỡng Hà cổ đại.


(C̣n tiếp...)

Cafe
24-04-2010, 02:12 PM
Tiếp theo #3




·Thiên văn

Về thiên văn học: Người Lưỡng Hà cổ đại cũng đạt được những thành tựu quan trọng. Các tăng lữ thường ngồi trên các tháp cao để quan sát thiên văn. Trong một năm, bầu trời Lưỡng Hà thường trong sáng được 8 tháng đă giúp cho các nhà thiên văn với mắt thường cũng có thể quan sát các tinh tú.

Qua một thời gian dài tích lũy kinh nghiệm, người Lưỡng Hà cho rằng trong vũ trụ có 7 hành tinh là mặt trời, mặt trăng và 5 hành tinh khác. Họ cũng đă xác định được đường hoàng đạo và chia hoàng đạo làm 12 cung, mỗi cung có một cḥm sao tương ứng. Họ c̣n biết được chu kỳ của một số hành tinh, ví dụ: Mặt trăng cứ hơn 18 năm lại quay về vị trí đối diện với mặt trời; sao kim cứ 8 năm lại quay về vị trí cũ; sao Thủy: 46 năm, sao Thổ: 59 năm, sao Hỏa: 79 năm; sao Mộc: 83 năm. Do vậy, họ đă tính được khoảng thời gian giữa hai lần nhật thực, nguyệt thực. Ngoài ra, trong tài liệu để lại c̣n ghi chép về sao chổi, sao băng, thời gian và địa điểm của động đất và băo.

Dựa vào sự quan sát thiên văn, từ thời Xume, người Lưỡng Hà đă đặt ra Âm lịch. Âm lịch của người Xume chia một năm làm 12 tháng, trong đó có 6 tháng đủ và 6 tháng thiếu. Tháng đủ có 30 ngày, tháng thiếu có 29 ngày, như vậy một năm có 354 ngày, so với năm mặt trời c̣n thiếu hơn 11 ngày. Để khắc phục nhược điểm đó, họ đă biết thêm tháng nhuận. Thời Hammurabi, tháng nhuận do vua quy định, về sau mới có chu kỳ cố định. Đến thời Tân Babilon, cứ 8 năm th́ nhuận 3 lần, sau đổi thành 27 năm nhuận 10 lần.

Cũng vào thời Tân Babilon, mỗi tháng được chia thành 4 tuần, mỗi tuần có 7 ngày, tương ứng với 7 hành tinh và mỗi ngày có một vị thần làm chủ: Thần Mặt trời quản ngày chủ nhật, thần Mặt Trăng quản ngày thứ hai, thần Sao Hỏa quản ngày thứ ba, thần Sao Thủy quản ngày thứ tư, thần Sao Mộc quản ngày thứ năm, thần Sao Kim quản ngày thứ sáu, thần Sao Thổ quản ngày thứ bảy. Cách dùng tên mặt trời mặt trăng và các hành tinh để gọi các ngày trong tuần vẫn được dùng ở phương Tây cho đến ngày nay.

Ngày của người Lưỡng Hà bắt đầu từ lúc mặt trời lặn. Mỗi ngày chia làm 12 giờ, mỗi giờ có 30 phút. Như vậy, mỗi phút của người Lưỡng Hà cổ đại bằng bốn phút ngày nay.

Lịch của người Babilon cổ đại tuy là âm lịch nhưng rơ ràng là đă tương đối chính xác.

·Y học

Về y học: Người Lưỡng Hà cổ đại cũng đă có những hiểu biết đáng kể. Trong các tài liệu y học để lại đến ngày nay đă thấy nói đến các bệnh ở đầu, khí quan hô hấp, mạch máu, tim, thận, dạ dày, tai, mắt, phong thấp, ngoài da, bệnh phụ nữ...Hiện tượng của bệnh trúng gió được ghi lại như sau: "... mồm bệnh nhân méo xệch, mắt nhắm nghiền, môi mím chặt, không nói được".

C̣n bệnh ở huyệt thái dương th́ ghi rằng: "Khi một người huyệt thái dương nhiễm bệnh th́ tai ù, mắt nảy đom đóm, vỏ năo phía sau rất đau,... tim thổn thức, chân bủn rủn".

Trong quá tŕnh chữa bệnh, các thầy thuốc đă được chuyên môn hóa. Họ được chia thành các khoa như khoa Nội, khoa Ngoại, khoa Mắt... Phương pháp chữa bệnh gồm có cho uống thuốc, xoa bóp, băng bó, tẩy rửa, kể cả giải phẫu.

Dược liệu gồm có nước, dầu, các loại thuốc được chế biến từ thực vật, động vật, khoáng vật.

Tuy vậy, nền Y học của Lưỡng Hà cổ đại chưa thoát khỏi những quan niệm về mê tín. Ví dụ họ cho rằng nguyên nhân của bệnh tật ngoài việc không điều ḥa trong cơ thể c̣n do ma qủy. V́ vậy, để chữa bệnh người ta phải cầu thần linh, dùng bùa chú, và dùng những thứ như lưỡi chuột, mắt gà, đuôi chó... Hơn nữa, các thầy thuốc không được chữa bệnh vào các ngày 7, 14, 21, 28, 29, v́ những ngày ấy theo quan niệm của người Lưỡng Hà cổ đại là những ngày xấu.

Tóm lại khu vực Lưỡng Hà đă bước vào xă hội văn minh rất sớm và đă đạt được những thành tựu rực rỡ về văn hóa. Những thành tựu văn hóa ấy, nhất là về các mặt như chữ viết, văn học, toán học, thiên văn đă có ảnh hưởng quan trọng đối với văn minh khu vực và thế giới.

Cafe
24-04-2010, 02:13 PM
#4


VĂN MINH TRUNG QUỐC


Lănh thổ Trung Quốc ngày nay rộng mênh mông nhưng Trung Quốc thời cổ đại nhỏ hơn bây giờ nhiều. Địa h́nh Trung Quốc đa dạng, phía Tây có nhiều núi và cao nguyên, khí hậu khô hanh, phía đông có các b́nh nguyên châu thổ ph́ nhiêu, thuận lợi cho việc làm nông nghiệp.

Trong hàng ngàn con sông lớn nhỏ ở Trung Quốc, có hai con sông quan trọng nhất là Hoàng Hà và Trường Giang (Dương Tử). Hai con sông này đều chảy theo hướng tây-đông và hàng năm đem phù sa về bồi đắp cho những cánh đồng ở phía đông Trung Quốc.

Trung Quốc gồm nhiều dân tộc nhưng đông nhất là người Hoa-Hạ. Người Hoa ngày nay tự cho tổ tiên họ gổc sinh sống ở ven núi Hoa thuộc tỉnh Thiểm Tây và sông Hạ thuộc tỉnh Hồ Bắc ngày nay.(Dân núi Hoa sông Hạ).

Trong gần 100 dân tộc hiện sinh sống trên đất Trung Quốc ngày nay, có 5 dân tộc đông người nhất là Hán, Măn, Mông, Hồi, Tạng.

Con người đă sinh sống ở đất Trung Quốc cách đây hàng triệu năm. Dấu tích người vượn ở hang Chu Khẩu Điếm ( gần Bắc Kinh) có niên đại cách đây hơn 500 000 năm. Cách ngày nay khoảng hơn 5000 năm, xă hội nguyên thuỷ ở Trung Quốc bước vào giai đoạn tan ră, xă hội có giai cấp, nhà nước ra đời.

Giai đoạn đầu, lịch sử Trung Quốc chưa được ghi chép chính xác mà chỉ được chuyển tải bằng truyền thuyết. Theo truyền thuyết, các vua đầu tiên của Trung Quốc là ở thời ḱ Tam Hoàng ( Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông ) và Ngũ Đế ( Hoàng đế, Cao Dương đế, Cốc đế, Nghiêu đế, Thuấn đế ). Theo các nhà nghiên cứu, thực ra đây là giai đoạn cuối cùng của thời ḱ công xă nguyên thuỷ.

Thời Tam đại ở Trung Quốc trải qua ba triều đại:

Nhà Hạ từ khoảng thế kỉ XXI - XVI TCN. Nhà Thương ( c̣n được gọi là Ân-Thương) từ thế kỉ XVI - XI TCN. Nhà Chu về danh nghĩa từ thế kỉ XI - III TCN, nhưng thực chất nhà Chu chỉ nắm thực quyền từ thế kỉ XI TCN đến năm 771 TCN ( thời Tây Chu ). C̣n từ năm 771, ( sau loạn Bao Tự ) đến năm 221 TCN, Trung Quốc ở vào thời loạn. Giai đoạn lịch sử này được ghi lại trong hai bộ Xuân thu sử và Chiến quốc sách.

Thời phong kiến:

Nhà Tần ( 221-206 TCN): Năm 221 TCN, Tần Thuỷ Hoàng đánh bại các nước khác thời Chiến quốc, thống nhất đất nước, tạo điều kiện thống nhất chữ viết, đo lường, tiền tệ.

Nhà Hán ( 206 TCN - 220 ): Lưu Bang lập nên nhà Hán. Giai đoạn đầu, nhà Hán đóng đô ở phía tây Trung Quốc - Tây Hán. Sau loạn Vương Măng, nhà Hán dời đô sang phía đông - Đông Hán.

Thời Tam quốc (220 - 280 ), đây là thời ḱ Trung Quốc bị chia xẻ ra làm ba nước Nguỵ, Thục, Ngô.

Nhà Tấn ( 265 - 420 ). Năm 265, cháu Tư Mă Ư ( tướng quốc nước Nguỵ ) là Tư Mă Viêm bắt vua Nguỵ phải nhường ngôi, lập ra nhà Tấn.

Nam - Bắc triều ( 420 - 581 ). Thời ḱ này, Trung Quốc lại chia làm hai triều đ́nh riêng biệt, đến năm 581 Dương Kiên mới thống nhất lại được.

Nhà Đường ( 618 - 907 ), đây là thời ḱ phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử phong kiến Trung Quốc.

Thời ḱ Ngũ đại - Thập quốc ( 907 - 960 ), hơn 50 năm này lại loạn lạc , ở miền Bắc có 5 triều đại kế tiếp nhau tồn tại (Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Tần, Hậu Chu ). Ở miền Nam chia thành 9 nước đó là: Ngô, Nam Đường, Ngô Việt, Tiền Thục, Hậu Thục, Nam Hán, Sở Măn, Nam B́nh, (và một nước nữa chưa rơ tên ).

Nhà Tống ( 960 - 1279 ). Giai đoạn đầu nhà Tống đóng đô ở phía bắc ( Bắc Tống ), sau bị bộ tộc Kim tấn công quấy phá phải chạy về phía nam ( Nam Tống ). Đến năm 1279 th́ bị nhà Nguyên diệt.

Nhà Nguyên ( 1279 - 1368 ). Sau khi diệt Tây Hạ, Kim, Nam Tống, Hốt Tất Liệt thống nhất toàn bộ Trung Quốc và lập ra nhà Nguyên.

Nhà Minh ( 1368 - 1644 ). Năm 1368, Chu Nguyên Chương đă lănh đạo người Hoa khởi nghĩa lật đổ ách thống trị của nhà Nguyên, lập ra nhà Minh.

Nhà Thanh (1644 - 1911 ). Người Măn vốn là một nhánh của tộc Nữ Chân, năm 1636 họ lập nước Thanh. Năm 1644, nhân sự loạn lạc ở vùng Trung Nguyên, người Măn đă kéo quân vào đánh chiếm Bắc kinh, lập ra triều đại cuối cùng của phong kiến Trung Quốc.

Những thành tựu chủ yếu của văn minh Trung Hoa

Trung Quốc là một trong những nơi xuất hiện nền văn minh sớm thời cổ -trung đại. Văn minh Trung Hoa thời cổ-trung đại có ảnh hưởng rất lớn tới các nước phương Đông.

Chữ viết:

Từ đời nhà Thương, người Trung Hoa đă có chữ Giáp cốt được viết trên mai rùa, xương thú, được gọi là Giáp cốt văn. Qua quá tŕnh biến đổi, từ Giáp cốt văn h́nh thành nên Thạch cổ văn, Kim văn. Tới thời Tần, sau khi thống nhất Trung Quốc, chữ viết cũng được thống nhất trong khuôn h́nh vuông được gọi là chữ Tiểu triện.

Văn học:

Kinh thi là tập thơ cổ nhất ở Trung Quốc do nhiều tác giả sáng tác thời Xuân-Thu, được Khổng tử sưu tập và chỉnh lí. Kinh thi gồm có 3 phần: Phong, Nhă, Tụng.

Thơ Đường là thời ḱ đỉnh cao của nền thơ ca Trung Quốc. Trong hàng ngàn tác giả nổi bật lên ba nhà thơ lớn đó là Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị.

Tới thời Minh-Thanh, tiểu thuyết lại rất phát triển với các tác phẩm tiêu biểu như: Tam quốc chí diễn nghĩa của La Quán Trung, Thuỷ hử của Thi Nại Am, Tây du kí của Ngô Thừa Ân, Nho lâm ngoại sử của Ngô Kính Tử, Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần...trong đó Hồng lâu mộng được đánh giá là tiểu thuyết có giá trị nhất.

Sử học:

Người Trung Hoa thời cổ rất có ư thức về biên soạn sử. Nhiều nước thời Xuân-Thu đă đặt các quan chép sử. Trên cơ sở quyển sử nước Lỗ, Khổng Tử đă biên soạn ra sách Xuân Thu.

Tới thời Hán, Tư Mă Thiên là một nhà viết sử lớn đă để lại tác Phẩm Sử kí, chép lại lịch sử Trung Quốc gần 3000 năm, từ thời Hoàng Đế đến thời Hán Vũ Đế.

Tới thời Đông Hán, có các tác phẩm Hán thư của Ban Cố, Tam quốc chí của Trần Thọ, Hậu Hán thư của Phạm Diệp .

Tới thời Minh-Thanh, các bộ sử như Minh sử, Tứ khố toàn thư là những di sản văn hoá đồ sộ của Trung Quốc.

Khoa học tự nhiên và kĩ thuật:

Toán học:

Người Trung Hoa đă sử dụng hệ đếm thập phân từ rất sớm. Thời Tây Hán đă xuất hiện cuốn Chu bễ toán kinh, trong sách đă có nói đến quan niệm về phân số, về quan hệ giữa 3 cạnh trong một tam giác vuông.

Thời Đông Hán, đă có cuốn Cửu chương toán thuật, trong sách này đă nói đến khai căn bậc 2, căn bậc 3, phương tŕnh bậc1, đă có cả khái niệm số âm, số dương.

Thời Nam-Bắc triều có một nhà toán học nổi tiếng là Tổ Xung Chi, ông đă t́m ra số Pi xấp xỉ 3,14159265, đây là một con số cực ḱ chính xác so với thế giới hồi đó.

Thiên văn học:

Từ đời nhà Thương, người Trung Hoa đă vẽ được bản đồ sao có tới 800 v́ sao. Họ đă xác định được chu ḱ chuyển động gần đúng của 120 v́ sao. Từ đó họ đặt ra lịch Can-Chi. Thế kỉ IV TCN, Can Đức đă ghi chép về hiện tượng vết đen trên Mặt trời. Thế kỉ II, Trương Hành đă chế ra dụng cụ để dự báo động đất.

Năm 1230, Quách Thủ Kính (đời Nguyên) đă soạn ra cuốn Thụ thời lịch, xác định một năm có 365,2425 ngày. Đây là một con số rất chính xác so với các nhà thiên văn Châu Âu thế kỉ XIII.

Y dược học:

Thời Chiến Quốc đă có sách Hoàng đế nội kinh được coi là bộ sách kinh điển của y học cổ truyền Trung Hoa. Thời Minh có cuốn Bản thảo cương mục của Lí Thời Trân. Cuốn sách này được dịch ra chữ Latinh và được Darwin coi đây là bộ bách khoa về sinh vật của người Trung Quốc thời đó. Đặc biệt là khoa châm cứu là một thành tựu độc đáo của y học Trung Quốc.



(c̣n tiếp...)

Cafe
24-04-2010, 02:14 PM
Tiếp theo #4



Kĩ thuật:

Có 4 phát minh quan trọng về mặt kĩ thuật mà người Trung Hoa đă đóng góp cho nhân loại, đó là giấy, thuốc súng, la bàn và nghề in. Giấy được chế ra vào khoảng năm 105 do Thái Luân. Nghề in bằng những chữ rời đă được Tất Thăng sáng tạo vào đời Tuỳ.

Đồ sứ cũng có nguồn gốc từ Trung Hoa. Từ thế kỉ VI, họ đă chế ra diêm quẹt để tạo ra lửa cho tiện dụng.


Hội hoạ:

Hội hoạ Trung Quốc có lịch sử 5000 - 6000 năm với các loại h́nh: bạch hoạ, bản hoạ, bích hoạ. Đặc biệt là nghệ thuật vẽ tranh thuỷ mạc, có ảnh hưởng nhiều tới các nước ở Châu Á. Cuốn Lục pháp luận của Tạ Hách đă tổng kết những kinh nghiệm hội hoạ từ đời Hán đến đời Tuỳ.

Điêu khắc

Ở Trung Quốc cũng phân thành các ngành riêng như: Ngọc điêu, thạch điêu, mộc điêu. Những tác phẩm nổi tiếng như cặp tượng Tần ngẫu đời Tần, tượng Lạc sơn đại Phật đời Tây Hán ( pho tượng cao nhất thế giới ), tượng Phật ngh́n mắt ngh́n tay.

Kiến trúc

Cũng có những công tŕnh rất nổi tiếng như Vạn lí trường thành ( tới 6700 km ), Thành Tràng An, Cố cung, Tử cấm thành ở Bắc Kinh.

Triết học, tư tưởng:

Thuyết Âm dương, Bát quái, Ngũ hành, Âm dương gia:

Âm dương, bát quái, ngũ hành, là những thuyết mà người Trung Quốc đă nêu ra từ thời cổ đại để giải thích thế giới. Họ cho rằng trong vũ trụ luôn tồn tại hai loại khí không nh́n thấy được xâm nhập vào trong mọi vật là âm và dương ( lưỡng nghi).

Bát quái là 8 yếu tố tạo thành thế giới: Càn (trời), Khôn (đất), Chấn (sấm), Tốn (gió), Khảm (nước), Ly (lửa), Cấn (núi), Đoài (hồ). Trong Bát quái, hai quẻ Càn, Khôn là quan trọng nhất.

Ngũ hành là: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Đó là 5 nguyên tố tạo thành vạn vật. Các vật khác nhau là do sự pha trộn, tỉ lệ khác nhau do tạo hoá sinh ra. Sau này, những người theo thuyết Âm dương gia đă kết hợp thuyết Âm dương với Ngũ hành rồi vận dụng nó để giả thích các biến động của lịch sử xă hội .

Về tư tưởng:

Thời Xuân Thu - Chiến Quốc, ở Trung Quốc đă xuất hiện rất nhiều những nhà tư tưởng đưa ra những lí thuyết để tổ chức xă hội và giải thích các vấn đề của cuộc sống( Bách gia tranh minh ).

Nho gia: Đại biểu cho phái Nho gia là Khổng Tử. Nho gia đề cao chữ nhân, chủ trương lễ trị, phản đối pháp trị. Nho gia đề cao Tam cương, Ngũ thường, cùng với tư tưởng Chính danh định phận và đề cao tư tưởng Thiên mệnh. Giá trị quan trọng nhất trong tư tưởng của Khổng Tử là về giáo dục. Ông chủ trương dạy học cho tất cả mọi người.

Tới thời Hán Vũ Đế (140-87 TCN), chấp nhận đề nghị của Đổng Trọng Thư, Hán Vũ Đế đă ra lệnh “băi truất bách gia, độc tôn Nho thuật”, Nho gia đă được đề cao một cách tuyệt đối và nâng lên thành Nho giáo.

Đạo gia:

Đại biểu cho phái Đạo gia là Lăo Tử và Trang Tử . Hai ông đă thể hiện tư tưởng của ḿnh qua hai tác phẩm Đạo đức kinh và Nam Hoa kinh. Theo Lăo Tử, “Đạo” là cơ sở đầu tiên của vũ trụ, có trước cả trời đất, nằm trong trời đất. Qui luật biến hoá tự thân của mỗi sự vật ông gọi là “Đức”. Lăo Tử cho rằng mọi vật sinh thành, phát triển và suy vong đều có mối liên hệ với nhau.

Tới thời Trang Tử, tư tưởng của phái Đạo gia mang nặng tính buông xuôi, xa lánh cuộc đời. Họ cho rằng mọi hoạt động của con người đều không thể cưỡng lại “đạo trời”, từ đó sinh tư tưởng an phận, lánh đời.

Phái Đạo giáo sinh ra sau này khác hẳn Đạo gia, mặc dù có phái trong Đạo giáo tôn Lăo Tử làm “Thái thượng lăo quân”. Hạt nhân cơ bản của Đạo giáo là tư tưởng thần tiên. Đạo giáo cho rằng sống là một việc sung sướng nên họ trọng sinh, lạc sinh.

Pháp gia:

Ngược hẳn với phái Nho gia, phái Pháp gia chủ trương “pháp trị”, coi nhẹ “lễ trị”. Tiêu biểu cho phái Pháp gia là Hàn Phi Tử, một kẻ sĩ thời Tần Thuỷ Hoàng.

Theo Hàn Phi Tử, trị nước chỉ cần pháp luật nghiêm minh, rơ ràng, dễ hiểu với mọi người, không cần lễ nghĩa. Ông cho rằng trị nước cần nhất 3 điều:

• Pháp: đó là phải định ra được pháp luật nghiêm minh, rơ ràng, dễ hiểu, công bằng với mọi người, không phân biệt đó là quí tộc hay dân đen.

• Thế: Muốn thực thi pháp luật th́ các bậc quân vương phải nắm vững quyền thế, không chia xẻ cho kẻ khác.

• Thuật: đó là thuật dùng người. Thuật có 3 mặt: bổ nhiệm, khảo hạch và thưởng phạt. Thuật bổ nhiệm là khi chọn quan lại chỉ căn cứ vào tài năng và ḷng trung thành, không cần ḍng dơi, đức hạnh. Khảo hạch là phải kiểm tra công việc thường xuyên. Thưởng phạt th́ chủ trương “ai có công th́ thưởng, ai có tội th́ trừng phạt thật nặng, bất kể là quí tộc hay dân đen”, trọng thưởng, trọng phạt.

Mặc gia:

Người đề xướng là Mặc Tử (Khoảng giữa thế kỉ V TCN đến giữa thế kỉ IV TCN ). Hạt nhân tư tưởng triết học của Mặc gia là nhân và nghĩa.

Mặc Tử c̣n là người chủ trương “ thủ thực hư danh” (lấy thực đặt tên). Tư tưởng của phái Mặc gia đầy thiện chí nhưng cũng không ít ảo tưởng. Từ đời Tần, Hán trở về sau, ảnh hưởng của phái Mặc gia hầu như không c̣n đáng kể.

Cafe
24-04-2010, 02:16 PM
#5

Văn minh Ấn Độ
Nội dung

I - Tổng quan về Ân độ cổ trung đại
1. Địa lư và cư dân
2. Sơ lược lịch sử Cổ Trung đại Ân độ
Thời kỳ văn minh lưu vực sông Ấn (từ đầu thiên kỷ III đến giữa thiên kỷ II TCN
Thời kỳ Vêđa (từ giữa thiên kỷ II đến giữa thiên kỷ I TCN)
Ấn Độ từ thế kỷ VI TCN đến thế kỷ XII
Ấn Độ từ thế kỷ XIII - XIX

II - Những thành tựu chính của văn minh Ân độ
1. Chữ viết
2. Văn học
Vêđa
Sử thi
Mahabharata Ramayan
Những tác phẩm của Caliđaxa
Các tác phẩm văn học viết bằng các phương ngữ
3. Nghệ thuật
4. Khoa học Tự nhiên
Thiên văn Toán học Vật lư Y dược học
5. Tôn giáo
Đạo Bàlamôn - Đạo Hinđu
Đạo Bàlamôn Đạo Hinđu
Đạo Phật
Học thuyết Phật giáo Sự phát triển của đạo Phật ở ấn Độ
Đạo Jain (Jainisme, Kỳna)
Đạo Xích (Sikh)


I - Tổng quan về Ấn Độ cổ trung đại
1. Địa lư và cư dân

Ấn Độ là một bán đảo ở Nam á, từ Đông Bắc đến Tây Bắc có núi chắn ngang, trong đó có dăy Himalaya nổi tiếng. Ấn Độ chia làm hai miền Nam, Bắc lấy dăy núi Vinđya làm ranh giới. Miền Bắc Ấn Độ có hai con sông lớn là sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Gange). Sông Ấn chia làm 5 nhánh, nên đồng bằng lưu vực sông Ấn được gọi là vùng Pungiáp (vùng Năm sông). Tên nước Ấn Độ là gọi theo tên con sông này. Sông Hằng ở phía Đông được coi là một ḍng sông thiêng. Từ xưa nhân dân Ấn Độ thường đến khúc sông ở thành phố Varanadi (Bênarét) để cử hành lễ tắm mang tính chất tôn giáo. Cả hai ḍng sông này đă bồi đắp thành hai đồng bằng màu mỡ ở miền Bắc Ấn Độ, v́ vậy nơi đây đă trở thành cái nôi của nền văn minh của đất nước này.Cư dân Ấn Độ, về thành phần chủng tộc, gồm hai loại chính: người Đraviđa chủ yếu cư chú ở miền Nam và người Arya chủ yếu cư chú ở miền Bắc. Ngoài ra c̣n có nhiều tộc khác như người Hy Lạp, người Hung Nô, người Arập... Họ dần dần đồng hóa với các thành phần cư dân khác, do đó vấn đề bộ tộc ở Ấn Độ là một vấn đề hết sức phức tạp.Thời cổ trung đại, phạm vi địa lư của nước Ấn Độ bao gồm cả các nước Pakixtan, Bănglađét và Nêpan ngày nay.


2. Sơ lược lịch sử cổ trung đại Ấn Độ
Từ khi bước vào xă hội có nhà nước cho đến khi bị thực dân Anh chinh phục, lịch sử Ấn Độ có thể chia thành 4 thời kỳ lớn sau đây:

·Thời kỳ văn minh lưu vực sông Ấn (từ đầu thiên kỷ III đến giữa thiên kỷ II TCN)

Từ khoảng đầu thiên kỷ III TCN, nhà nước Ấn Độ đă ra đời, nhưng cả giai đoạn từ đó cho đến khoảng giữa thiên kỷ II TCN, trước đây chưa được biết đến. Măi đến năm 1920 và 1921, nhờ việc phát hiện ra hai thành phố Harappa và Môhenjô Đarô cũng rất nhiều hiện vật bị chôn vùi dưới đất ở vùng lưu vực sông Ấn, người ta mới biết được thời kỳ lịch sử này. Những hiện vật khảo cổ học chỉ giúp người ta biết được t́nh h́nh phát triển của các ngành kinh tế và văn hóa, qua đó có thể suy ra đây là thời kỳ đă có nhà nước, chứ chưa biết được lịch sử cụ thể, v́ vậy người ta gọi thời kỳ này là thời kỳ văn hóa Harappa hoặc thời kỳ văn minh lưu vực sông Ấn.Về đầu trang

·Thời kỳ Vêđa (từ giữa thiên kỷ II đến giữa thiên kỷ I TCN)

Thời kỳ này, lịch sử Ấn Độ được phản ánh trong các tập Vêđa nên gọi là thời Vêđa. Vêđa vốn là những tác phẩm văn học, gồm có 4 tập là: Rich Vêđa, Xama Vêđa, Atácva Vêđa và Yagiva Vêđa, trong đó Rich Vêđa được sáng tác vào khoảng giữa thiên kỷ II đến cuối thiên kỷ II TCN, c̣n 3 tập Vêđa khác th́ được sáng tác vào khoảng đầu thiên kỷ I TCN.Chủ nhân của thời kỳ Vêđa là người Arya (nghĩa là "Người cao quư") mới di cư từ Trung á vào Ấn Độ. Địa bàn sinh sống của họ trong thời kỳ này chủ yếu là vùng lưu vực sông Hằng. Trong giai đoạn đầu của thời Vêđa, người Arya đang sống trong giai đoạn tan ră của xă hội nguyên thủy đến khoảng cuối thiên kỷ II TCN, họ mới tiến vào xă hội có nhà nước. Chính trong thời kỳ này, ở Ấn Độ đă xuất hiện hai vấn đề có ảnh hưởng rất quan trọng và lâu dài trong xă hội nước này, đó là chế độ đẳng cấp (varna) và đạo Bàlamôn.Về đầu trang

. Ấn Độ từ thế kỷ VI TCN đến thế kỷ XII

Các quốc gia ở miền Bắc Ấn Độ và sự xâm lược của Alêchxăngđrơ MakêđôniaBắt đầu từ thế kỷ VI TCN, Ấn Độ mới có sử sách ghi chép về t́nh h́nh chính trị của đất nước ḿnh. Lúc bấy giờ ở miền Bắc Ấn Độ có 16 nước, trong đó mạnh nhất là nước Magađa hạ lưu sông Hằng. Trong số các nước như ở Tây Bắc Ấn Độ, chỉ có nước Po là tương đối lớn. Năm 327 TCN, sau khi tiêu diệt Ba Tư, quân đội Makêđônia do Alêchxăngđrơ chỉ huy đă tấn công Ấn Độ. Quân đội của nước họ đă chiến đấu rất dũng cảm nhưng cuối cùng bị thất bại. Alêchxăngđrơ định tiến sang phía Đông tấn công nước Magađa nhưng quân sĩ đă quá mệt mỏi sau một cuộc trường trinh nhiều năm nên phải rút lui, chỉ để lại một lực lượng chiếm đóng ở hai cứ điểm đă chiếm được mà thôi.Vương triều Môrya (321 - 187 TCN)Ngay sau khi Alêchxăngđrơ rút lui, ở Ấn Độ đă dấy lên phong trào đấu tranh giải phóng chống lại sự chiếm đóng của quân Makêđônia. Thủ lĩnh của phong trào này là Sanđragupta, biệt hiệu là Môrya (chim công). Quân Makêđônia bị đuổi khỏi Ấn Độ, Sanđragupta làm chủ được cả vùng Pungiáp. Tiếp đó, ông tiến quân về phía Đông giành được ngôi vua ở Magađa; lập nên một triều đại mới gọi là vương triều Môrya, triều đại huy hoàng nhất trong lịch sử Ấn Độ cổ đại.Đến thời Axôca (273-236 TCN), vương triều Môrya đạt đến giai đoạn cường thịnh nhất. Đạo Phật ra đời từ khoảng thế kỷ V TCN, đến thời kỳ này được phát triển nhanh chóng và trở thành quốc giáo. Sau khi Axôca chết, vương triều Môrya suy sụp nhanh chóng, nước Magađa thống nhất dần dần tan ră, đến năm 28 TCN th́ diệt vong.Nước CusanTrong khi t́nh h́nh chia cắt ở Ấn Độ đang diễn ra trầm trọng th́ vào thế kỷ I, tộc Cusan (cùng một huyết thống với người Tuốc) từ Trung á tràn vào chiếm được miền Tây Bắc Ấn Độ lập thành một nước tương đối lớn. Vua nước Cusan lúc bấy giờ là Canixca (78-123) cũng là một người rất tôn sùng đạo Phật nên thời kỳ này Phật giáo cũng rất hưng thịnh. Sau khi Canixca chết, nước Cusan ngày càng suy yếu, lănh thổ chỉ c̣n lại vùng Pungiáp và tồn tại đến thế kỷ V th́ diệt vong.Vương triều Gupta và vương triều HacsaTrong thế kỷ III, Ấn Độ lại bị chia cắt trầm trọng. Năm 320, vương triều Gupta được thành lập, miền Bắc và một phần miền Trung Ấn Độ tạm thời thống nhất một thời gian. Từ năm 500-528, phần lớn miền Bắc Ấn Độ bị người Eptalil xâm chiếm và thống trị, đến năm 535, triều Gupta diệt vong.Năm 606, vua Hácsa lại dựn lên một vương triều tương đối hùng mạnh ở miền Bắc Ấn Độ. Chính trong thời kỳ này nhà sư Huyền Trang của Trung Quốc đă sang Ấn Độ để t́m kinh Phật. Năm 648, Hácsa chết, quốc gia hùng mạnh do ông dựng lên cũng tan ră.Từ đó cho đến thế kỷ XII, Ấn Độ bị chia cắt càng trầm trọng và nhiều lần bị ngoại tộc xâm nhập. Đặc biệt từ đầu thế kỷ XI, Ấn Độ thường bị các vương triều hồi giáo ở Ápganixtan tấn công và đến năm 1200 toàn bộ miền Bắc Ấn Độ bị nhập vào ápganixtan.

·Ấn Độ từ thế kỷ XIII - XIX

Thời kỳ Xuntan Đêli (1206-1526)Năm 1206, viên Tổng đốc của Ápganixtan ở miền Bắc Ấn Độ đă tách miền Bắc Ấn Độ thành một nước riêng tự ḿnh làm Xuntan (vua), đóng đô ở Đêli, gọi là nước Xutan Đêli (vương quốc Hồi giáo Đêli). Từ đó đến năm 1526, ở miền Bắc Ấn Độ đă thay đổi đến 5 vương triều, nhưng đều do người ngoại tộc theo Hồi giáo thành lập, đồng thời đều đóng đô ở Đêli, nên thời kỳ này gọi là thời kỳ Xuntan Đêli.Thời kỳ Môgôn (1526-1857)Nước Mông Cổ do thành Cát Tư Hăn thành lập năm 1206. Sau khi thành Cát Tư Hăn chết (1227), đế quốc Mông Cổ chia thành nhiều nước. Ḍng dơi của người Mông Cổ ở Trung á đều Tuốc hóa và đều theo đạo Hồi. Từ thế kỷ XIII, người Mông Cổ ở Trung á nhiều lần tấn công Ấn Độ. Năm 1526, họ chiếm được Đêli, thành lập vương triều mới gọi là vương triều Môgôn (Mông Cổ). Từ giữa thế kỷ XVIII, thực dân Anh bắt đầu chinh phục Ấn Độ, đến năm 1849, Ấn Độ hoàn toàn biến thành thuộc địa của Anh, vương triều Môgôn đến năm 1857 bị diệt vong.

II - Những thành tựu chính của văn minh Ấn Độ
1. Chữ viết

Chữ viết đầu tiên của Ấn Độ được sáng tạo từ thời văn hóa Harappa. Tại các di chỉ thuộc nền văn minh lưu vực sông Ấn đă phát hiện được hơn 3.000 con dấu khắc chữ đồ họa. Suốt nửa thế kỷ từ khi phát hiện lần đầu tiên vào năm 1921, nhiều tác giả của nhiều nước đă nghiên cứu cách đọc loại chữ này nhưng chưa thành công. Măi đến cách đây vài chục năm, một nhà khảo cổ học Ấn Độ là tiến sĩ S.R. Rao đă khám phá được sự bí ẩn của loại chữ này.Theo ông Rao, đây là một loại chữ dùng h́nh vẽ để ghi âm, ghi vần. Trong số hơn 3000 con dấu ấy có 22 dấu cơ bản. Loại chữ này chủ yếu viết từ phải sang trái. Những con dấu đă phát hiện được là những con dấu dùng để đóng trên các kiện hàng để xác nhận hàng hóa và chỉ rơ xuất xứ của những hàng hóa đó.Đến khoảng thế kỷ V TCN. ở Ấn Độ xuất hiện một loại chữ khác gọi là chữ Kharosthi. Đây là một loại chữ phỏng theo chữ viết của vùng Lưỡng Hà. Sau đó lại xuất hiện chữ Brami, một loại chữ được sử dụng rộng răi. Các văn bia của Axôca đều viết bằng loại chữ này. Trên cơ sở chữ Brami, người Ấn Độ lại đặt ra chữ Đêvanagari có cách viết đơn giản thuật tiện hơn. Đó là thứ chữ mới để viết tiếng Xanxcrit. Đến nay ở Ấn Độ và Nêpan vẫn dùng loại chữ này.

2. Văn học

Ấn Độ là một nước có nền văn học rất phát triển. Thời cổ đại văn học Ấn Độ gồm hai bộ phận quan trọng là Vêđa và sử thi.

· Vêđa

Vêđa vốn nghĩa là hiểu biết. Vêđa có 4 tập là Rích Vêđa, Xama Vêđa, Yagiua Vêđa, và Atácva Vêđa.Ba tập Vêđa trên gồm những bài ca và những bài cầu nguyện phản ánh t́nh h́nh người Arya tràn vào Ấn Độ, t́nh h́nh tan ră của chế độ thị tộc, t́nh h́nh cư dân đấu tranh với thiên nhiên như hạn hán, lũ lụt. Trong đó, Rích Vêđa với 1028 bài thơ là tập quan trọng nhất.C̣n Atácva Vêđa chủ yếu bao gồm các bài chú nhưng nội dung mà tập Vêđa này đề cập đến gồm các mặt như chế độ đẳng cấp, việc hành quân, chữa bệnh, đánh bạc và cả t́nh yêu nữa.Ca ngợi thần sét inđra, Rích Vêđa viết:Tôi muốn ca ngợi sự tích anh hùng của thần Inđra,Những chiến công của vị thần Thiên Lôi ấy,Ngài đă chém con ác long cho nước mưa tuôn chảy,Và mở toang các hang động trên non cao.Nói về uy quyền của đẳng cấp Bàlamôn khi họ làm cố vấn tôn giáo cho nhà vua, Atácva Vêđa viết:Sắc hơn lưỡi búa,Sáng hơn ngọn lửa,Vang hơn tiếng sét của Inđra.Cố vấn của người như thế chính là ta.Trong Atácva Vêđa cũng có những bài thơ tỏ t́nh:Như gió lay ngọn cỏ,Anh lay chuyển ḷng emRồi em sẽ yêu anhVà không rời anh nữa.Kế tiếp theo 4 tập Vêđa và có liên quan với Vêđa c̣n có các tác phẩm Bramana (Phạn thư), Araniaca (sách rừng rậm) Ypannisát (sách nghĩa sâu) v.v... Những sách này đều viết bằng văn xuôi, nội dung bao gồm những bài cầu nguyện, thần chú, những nghi thức cúng bái, những bài thuyết pháp, những lời giải thích triết lư trong kinh Vêđa chứ về văn học th́ không có giá trị ǵ đáng kể.



(C̣n tiếp)

Cafe
24-04-2010, 04:03 PM
Tiếp #5



·Sử thi

Ấn Độ có hai bộ sử thi rất đồ sộ là Mahabharata và Ramayan. Hai bộ sử thi này được truyền miệng từ nửa đầu thiên kỷ I TCN rồi được chép lại bằng khẩu ngữ, đến các thế kỷ đầu công nguyên th́ được dịch ra tiếng Xanxcrit.

A. Mahabharata

Mahabharata có 18 chương và 1 chương bổ sung tài liệu, gồm 220.000 câu. Đây là bộ sử thi dài nhất thế giới, so với cả hai bộ Iliat và Ôđixê của Hy Lạp cổ đại gộp lại c̣n dài hơn 8 lần.

Tương truyền rằng người soạn lại bộ sử thi này là Viasa. Chủ đề của tác phẩm này là cuộc đấu tranh trong nội bộ một ḍng họ đế vương ở miền Bắc Ấn Độ. Bởi vậy tập thơ lấy tên là Mahabharata nghĩa là "Cuộc chiến tranh giữa con cháu Bharata".Cốt chuyện như sau: Ở thành phố Haxtinapua có một ḍng họ vua chúa gọi là Curu vốn là con cháu của vua Bharata. Ḍng họ này có hai anh em là Đritarattơra và Panđu. V́ người anh bị mù nên Panđu được làm vua, Đritarattơra có 100 con trai, gọi chung là anh em Curu; c̣n Panđu có 5 con trai, gọi chung là anh em Panđu.Sau khi Panđu chết, anh em Curu và anh em Panđu chia đôi vương quốc. Nhưng v́ muốn chiếm toàn bộ đất nước, anh em Curu đă thách anh em Pađu đánh bạc. Nhờ gian lận, anh em Curu thắng liên tiếp. Bị mất hết mọi của cải, anh em Panđu đặt phần đất nước của ḿnh vào canh bạc nhưng cũng bị thua nốt. Theo lời giao hẹn, anh em Panđu bị trục xuất và phải trốn tránh trong 13 năm, không được để phía anh em Curu phát hiện.Hết kỳ hạn, anh em Panđu trở về yêu cầu anh em Curu trả lại đất đai cho họ, nhưng bị từ chối, do đó một cuộc chiến tranh khốc liệt giữa hai bên bùng nổ. Sau 18 ngày đánh nhau dữ dội, hàng trăm triệu người đă bị tử trận, phe Curu chỉ có 3 người sống sót, cả 100 anh em Curu đều chết. Phe Panđu tuy thắng lợi nhưng cũng chỉ c̣n lại 6 người, trong đó có 5 anh em Panđu.Xoáy vào cốt chuyện ấy, bộ sử thi này đă miêu tả rất nhiều cảnh khác nhau với những chi tiết ly kỳ như cảnh ăn chơi xa hoa ở chốn cung đ́nh, những cuộc t́nh duyên éo le nhưng chung thủy, những cảnh sinh hoạt trong xă hội lúc bấy giờ và đậm nét nhất là cảnh chiến đấu anh dũng nhưng vô cùng thảm khốc. Hơn nữa, cùng với thời gian, những câu chuyện như vậy không ngừng được bổ sung vào làm cho tác phẩm càng thêm phong phú.

B. Ramayana

Ramayana có VII chương, trong đó chương I và chương VII về sau mới thêm vào, gồm 48000 câu. Tương truyền rằng tác giả là Vanmiki. Chủ đề của tác phẩm này là câu chuyện t́nh duyên giữa hoàng tử Rama và người vợ chung thủy Sita.Cốt chuyện như sau: Trong thời Vêđa, vương quốc Côxala được sống trong cảnh thanh b́nh dưới sự trị v́ của vua Đaxarađa. Người con trưởng của vua là Rama, một thanh niên thông minh dũng cảm và có đạo đức được vua chọn làm thái tử nối ngôi.Gần đó có một vương quốc khác, là Viđêha, dân chúng cũng được an cư lạc nghiệp dưới quyền thống trị của vua Gianắc. Bản thân vua cũng cầm cày cày ruộng. Một hôm nhà vua đang cày, bỗng thấy từ luống cày hiện lên một thiếu nữ xinh đẹp. Nhà vua đêm về nuôi, đặt tên là Sita và coi như con. Khi Sita đến tuổi lấy chồng, nhà vua tổ chức một cuộc thi bắn cung để kén pḥ mă. Nhiều thanh niên tham dự cuộc thi, nhưng chỉ có Rama giương nổi cây cung của nhà vua. Rama được kết hôn với công chúa Sita.Nhưng một ái phi của vua Đaxarata v́ ghen với hoàng hậu có con trai là Rama được làm thái tử nối ngôi nên yêu cầu vua đày Rama ra khỏi đất nước 14 năm.Rama cùng Sita đến sống ở trong rừng. Một công chúa góa chồng một hôm dạo chơi trong rừng gặp Rama rồi đêm ḷng yêu chàng. Bị từ chối quyết liệt, nàng công chúa ấy tức giận nên bảo em trai ḿnh là Ravan, vua nước Qủy ở đảo Lanca bắt cóc Sita.Nhờ sự giúp đỡ của vua nước Vượn là Xugriva, Rama tổ chức được một đội quân gồm toàn vượn và gấu. Theo lệnh của Rama, một cái cầu được xây dựng nối liền lục địa với đảo Lanca. Ngày nay, giữa Ấn Độ và Xri Lanca có những ḥn đảo mà theo truyền thuyết của cư dân địa phương, đó chính là dấu vết của cái cầu ấy. Với đội quân vượn và gấu đó, Rama đánh bại vua nước Qủy và cứu được Sita. Thời gian đi đày cũng hết, Rama trở về đất nước của ḿnh và lên làm vua.Chương cuối do người đời sau thêm vào kế tiếp rằng mặc dầu Sita đă thắng được cuộc thử lửa, Rama vẫn nghĩ nàng không giữ được trinh tiết với ḿnh trong thời gian ở cung điện của Ravan, nên Rama đă đày vợ vào rừng. Tại đây, Sita sinh được 2 đứa con trai và gặp Vanmiki mà về sau trở thành tác giả của tập thơ. Lớn lên hai đứa con ấy trở thành người đi hát rong và một hôm chúng đă hát cho Rama nghe bản trường ca Ramayana. Rama nhận ra con ḿnh, sai sứ giả vào rừng đón Sita về cung. Sita được minh oan nhưng vẫn đau khổ v́ đă bị chồng nghi ngờ nên biến vào ḷng đất, người mẹ trước đây đă sinh ra nàng từ luống cày. Rama tiếp tục trị v́ trong nhiều năm nữa, nhân đân được sống yên vui, nhưng bản thân ông phải sống trong cảnh buồn rầu và cô độc ".Hai bô sử thi Mahabharata và Ramayana là những công tŕnh sáng tác tập thể của nhân dân Ấn Độ trong nhiều thế kỷ và là niềm tự hào của nhân dân Ấn Độ trong hai ngàn năm nay. Cho đến nay, các nhà văn nghệ sĩ Ấn Độ thuộc các ngành thơ, kịch, họa, điêu khắc.... vẫn t́m được ở trong hai tác phẩm vĩ đại ấy nhiều đề tài và cảm hứng để sáng tác.Ngoài văn học tiếng Xanxcrít ra, c̣n có những tác phẩm viết bằng các thứ ngôn ngữ khác, trong đó trước hết cần phải kể đến những tác phẩm viết bằng tiếng Pali về chủ đề Phật giáo.


·Những tác phẩm của Caliđaxa

Caliđaxa là nhà thơ và nhà soạn kịch lớn nhất thời Gupta (thế kỷ V). Tác phẩm tiêu biểu nhất của ông là vở kịch Sơcuntla.Vở kịch Sơcuntla vốn phỏng theo một câu chuyện dân gian chép trong sử thi Mahabharata, nhưng đă được tác giả cải biên và thêm nhiều t́nh tiết. Nội dung của vở kịch miêu tả câu chuyện t́nh duyên giữa nàng Sơcuntla và vua Đusơnta, trải qua nhiều éo le trắc trở, cuối cùng hai người được đoàn tụ và được hạnh phúc đời đời.Tuy là một nhà soạn kịch cung đ́nh, lại chịu ảnh hưởng của đạo Bàlamôn, nhưng Caliđaxa đă thể hiện trong tác phẩm của ḿnh tư tưởng tự do, chống lại lễ giáo khắt khe, lên án bản chất giả dối, lừa gạt, không chung thủy của giai cấp thống trị và trên chừng mực nhất định đă chống quan niệm về đẳng cấp.Sơcuntla và Caliđaxa là niềm tự hào của nhân dân Ấn Độ. Suốt 15 thế kỷ nay, Sơcuntla đă trở thành nguồn cảm hứng, nguồn đề tài của nhiều ngành nghệ thuật khác nhau của Ấn Độ như kịch, điện ảnh, họa, nhạc, vũ v.v... Không những ở Ấn Độ mà đối với thế giới, tác phẩm Sơcuntla cũng có một tiếng vang rất lớn.Gớt nhà đại văn hào Đức đă không tiếc lời ca ngợi:"Nếu muốn có một tiếng ôm ấp được cả hoa mùa xuân và trái mùa thu,Một tiếng làm đắm say nuôi dưỡng và thỏa măn được tâm hồn.Nếu muốn có một tiếng bao gồm được cả trời đất,Th́ tôi gọi: Sơcuntla.Tiếng đó nói lên tất cả.Ngày nay Caliđaxa được xếp vào loại các nhà văn lớn của thế giới và năm 1957 ông đă được Hội đồng ḥa b́nh thế giới tổ chức kỷ niệm.


·Các tác phẩm văn học viết bằng các phương ngữ

Từ cuối thế kỷ X về sau, ngoài văn học tiếng Xanxcrít đă xuất hiện nhiều tác phẩm văn học viết bằng các loại phương ngữ khác nhau.Vào thế kỷ XIII, nhà thơ Tichcala đă dịch 15 chương trong bộ sử thi Mahabharata ra tiếng Têlugu, làm cho nền văn học cổ điển càng được phổ cập rộng răi.Đến thế kỷ XVI, XVII, dưới triều Môgôn, có một số nhà thơ đă sáng tác bằng tiếng Ba Tư. Tuy nhiên phong phú nhất vẫn là nền văn học bằng tiếng Inđi và các loại ngôn ngữ địa phương khác. Thiên trường ca Ramayana do Tunxi Đát viết bằng tiếng Inđi là một tác phẩm nổi tiếng được nhân dân rất ưa thích..Tập thơ Xuốc của nhà thơ mù Xuốc Đát viết bằng một loại phương ngữ khác trong tiếng Inđi mà chủ đề chính là chủ nghĩa anh hùng và t́nh yêu cũng là một tác phẩm có giá trị.Những bài ca du dương, gợi cảm ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên Ấn Độ của ca sĩ kiêm nhà thơ Tanxen cũng rất nổi tiếng. Ngoài ra, trong thời kỳ này c̣n có nhiều nhà thơ khác.Đặc trưng chung của nền thi ca giai đoạn này là dùng ngôn ngữ dân gian chứ không dùng ngôn ngữ cung đ́nh, đồng thời c̣n sử dụng nhiều chất liệu trong văn học dân gian, phản ánh được tâm tư nguyện vọng của quần chúng nên được nhân dân rất thích thú.

3. Nghệ thuật

Thời cổ chung đại, Ấn Độ đă có một nền nghệ thuật phong phú đặc sắc bao gồm nhiều mặt, trong đó nổi bật nhất là các ngành kiến trúc, điêu khắc. Thời Harappa, nhà cửa chỉ mới xây bằng gạch, đến thời vương triều Môrya, nghệ thuật kiến trúc đá mới bắt đầu phát triển mà các công tŕnh tiêu biểu là cung điện, chùa, tháp, trụ đá...Axôca đă xây cho ḿnh một ṭa hoàng cung rất lộng lẫy. Cung điện chính là một ṭa nhà ba tầng và được trang sức bằng những tác phẩm điêu khắc rất đẹp.Tháp, tiếng Xanxcrít là stupa, tiếng Pali và thupo, là công tŕnh kiến trúc dùng để bảo tồn các i vật của Phật. Trong số các tháp c̣n dữ đến ngày nay, điển h́nh nhất là tháp Xansi (Sanchi) ở Trung Ấn, xây từ thế kỷ III TCN. Tháp này xây bằng gạch, h́nh nửa quả cầu, cao hơn 16m, xung quanh có lan can và bốn cửa lớn. Lan can và cửa đều làm bằng đá và được trạm trổ rất đẹp.Trụ đá cũng là một loại công tŕnh kiến trúc dùng để thờ Phật. Những trụ đá này trung b́nh cao 15m nặng 50 tấn, trên đó trạm một hoặc nhiều con sư tử và các h́nh trang trí khác. Các sắc lệnh của Axôca thường được khắc trên các trụ đá đó. Trong số các trụ đá c̣n lại, nổi tiếng nhất là trụ đá ở Xácna (Sarnath). Trên đỉnh trụ đá này có chạm h́nh 4 con sư tử chụm đuôi vào nhau, mặt nh́n ra 4 hướng trong tư thế tự vệ. Dưới sư tử, có h́nh bánh xe luân hồi. H́nh tượng này nay được vẽ thành quốc huy của nước Ấn Độ.Trong số các chùa đền của các tôn giáo như Bàlamôn, đạo phật, đạo Jain, chùa hay là một loại công tŕnh đặc biệt của Ấn Độ thời cổ trung đại, thường là những công tŕnh nghệ thuật kết hợp kiến trúc với điêu khắc, hội họa. Tiêu biểu cho loại công tŕnh này là những gian chùa hang ở Ajanta được kiến tạo từ thế kỷ II TCN đến thế kỷ VIII sau CN. Phương pháp kiến tạo chùa này là khoét sâu vào vách núi đá, có nhiều cột chống và được trang trí bằng nhiều bức trạm tinh vi và những tranh bích họa rất đẹp. Dăy chùa hang Ajanta gồm tất cả 29 gian (trong đó có gian h́nh vuông, mỗi chiều 20m) dùng để làm nơi thờ Phật, nơi giảng kinh và nơi ở của các nhà sư.Ngoài chùa Ajanta, dăy chùa hang Enlôra ở Trung Ấn kiến tạo vào thế kỷ VIII cũng là một công tŕnh tuyệt mỹ.Dăy chùa này dài khoảng 2km, bao gồm chùa Phật giáo, chùa đạo Hinđu và chùa đạo Jain.Ở Ấn Độ c̣n có những ngôi chùa lớn xây bằng gạch và đá. Đặc biệt, ở chùa Tanjo có một ngọn tháp xây h́nh Kim tự tháp, gồm 14 tầng, cao 61m, xây dựng từ thế kỷ XI. Đó cũng là một công tŕnh kiến trúc nổi tiếng.Đến thời Xuntan Đêli và thời Môngôn, cùng với việc đạo Hồi trở thành quốc giáo, ở Ấn Độ đă xuất hiện những công kiến trúc mới xây dựng theo kiểu Trung á và Tây á. Đó là những nhà thờ Hồi giáo, cung điện, lăng mộ mà đặc điểm chung của lối kiến trúc này là mái tṛn cửa ṿm, có tháp nhọn. Có khi các công tŕnh này c̣n kết hợp với phong cách truyền thống của Ấn Độ như xây theo lối có bao lơn lộ thiên, có cột chống thanh thoát...Công tŕnh tiêu biểu nhất của thời Môgôn là lăng TajMahan được xây dựng vào thế kỷ XVII. Lăng này là kết tinh tài nghệ của các kiến trúc sư và thợ thủ công nhiều nước: Ấn Độ, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Ư, v,.v... Toàn bộ ngôi lăng xây bằng đá cẩm thạch trắng. Chính điện, gác chuông, tháp, sân đều bố trí rất hài ḥa, bên trong bên ngoài đều trạm trổ. Nh́n từ xa, tất cả cảnh vật của lăng in lung linh trên mặt nước hồ xanh biếc, trông lại càng kỳ diệu.Về nghệ thuật tạo h́nh, v́ đạo Phật, trong thời kỳ đầu phản đối việc thờ thần tượng và h́nh ảnh nên nghệ thuật tạc tượng bị hạn chế trong một thời gian dài. Măi đến khi phái Phật giáo Đại thừa ra đời, chủ trương đó mới thay đổi, do vậy, từ thế kỷ I về sau, tượng Phật mới được tạo nên ngày một nhiều, trong đó tiêu biểu nhất là pho tượng bằng đá ở Ganđara.Ngoài tượng Phật c̣n có các tượng thần đạo Hinđu như tượng thần Visnu, thần Siva v.v... Các tượng thần đạo Hinđu thường được thể hiện dưới h́nh tượng nhiều đầu nhiều mặt nhiều tay và nhiều khi có h́nh thù rất đáng sợ.Nói chung nghệ thuật tạo h́nh Ấn Độ phần lớn nhằm vào chủ đề tôn giáo, nhưng v́ bắt nguồn từ cuộc sống thực tế nên tính hiện thực vẫn thể hiện rất rơ rệt, ví dụ tượng nhiều tay nhiều đầu là phỏng theo tư thế của các đội múa trong đền chùa và cung đ́nh.




C̣n tiếp...

Cafe
24-04-2010, 04:08 PM
Tiếp theo #5


4. Khoa học tự nhiên

Mặc dầu áp lực của tôn giáo rất mạnh nhưng do nhu cầu của cuộc sống hàng ngày, nhân dân Ấn Độ đă có nhiều phát minh quan trọng về một số môn khoa học tự nhiên như thiên văn, toán học, vật lư, y dược học...

·Thiên văn

Từ rất sớm, người Ấn Độ đă biết chia một năm làm 12 tháng, mỗi tháng 30 ngày, mỗi ngày 30 giờ, cứ năm năm th́ thêm 1 tháng nhuận. Các nhà thiên văn học Ấn Độ cổ đại đă biết được quả đất và mặt trăng đều h́nh cầu, biết được quỹ đạo của mặt trăng và tính được các kỳ trăng tṛn, trăng khuyết. Họ c̣n phân biệt được 5 hành tinh Hỏa, Thủy, Mộc, Kim, Thổ; biết được một số cḥm sao và sự vận hành của các ngôi sao chính.Tác phẩm thiên văn học cổ nhất của Ấn Độ là quyển Xitđanta (Siddhantas) ra đời vào khoảng thế kỷ V TCN.


·Toán học

Người Ấn Độ có một phát minh tưởng rất b́nh thường nhưng kỳ thực là một phát minh vô cùng quan trọng, đó là việc sáng tạo ra 10 chữ số mà ngày nay được dùng rộng răi trên thế giới.Vào thế kỷ VIII, người Arập nhờ dịch tác phẩm Sidd hantas mà học tập được chữ số Ấn Độ. Từ Arập, hệ thống chữ số này được truyền sang châu Âu, do đó những chữ số này thường bị gọi lầm là chữ số Arập.Tư liệu sớm nhất về các chữ số này là các bia đá của Axôca khắc từ thế kỷ III TCN. Tuy nhiên con số 0 được thấy sớm nhất trong một tài liệu Arập năm 873, sau đó 3 năm mới thấy trong tài liệu Ấn Độ. Mặc dầu vậy, người ta vẫn cho rằng, số 0 cũng do người Ấn Độ sáng tạo.Nhận được về tầm quan trọng của hệ thống chữ số này, cũng như tính chất vĩ đại việc phát minh ra hệ thống chữ số, nhà bác học Pháp Laplaxơ (Laplace, 1749-1827) viết:"Chính nhờ Ấn Độ mà chúng ta học được phương pháp tài t́nh chỉ dùng có mười chữ mà viết được đủ các số, mỗi chữ vừa có một trị số tuyệt đối, vừa có một trị số tùy theo vị trí của nó. ư đó tế nhị mà quan trọng, ngày nay chúng ta cho là đơn giản quá nên không thấy được công lao của người Ấn Độ. Nhưng chính nhờ nó đơn giản mà làm toán mới hóa ra hết sức dễ dàng và hệ thống số học đáng được kể là sáng kiến ích lợi nhất. Nếu có nghĩ rằng hai vị thiên tài bậc nhất thời cổ đại là Acsimét và Apôlôniốt (Apollonios) mà cũng không phát minh được hệ thống đó th́ mới nhận định nổi sáng kiến của người Ấn Độ tài t́nh đến như thế nào".Đến thế kỷ VI, người Ấn Độ đă tính được một cách chính xác số  là 3,1416; đồng thời c̣n phát minh ra đại số học và về sau cũng đă truyền sang Arập.Về h́nh học, người Ấn Độ cổ đại đă biết tính diện tích h́nh vuông, h́nh chữ nhật, h́nh tam giác và h́nh đa giác. Người Ấn Độ cũng đă biết được quan hệ giữa các cạnh của tam giác vuông.

·Vật lư học

Các nhà khoa học kiêm triết học Ấn Độ đă nêu ra thuyết nguyên tử. Người sáng lập trường phái triết học Vaisêsica là Canađa cho rằng vạn vật do các nguyên tử tạo nên, nhưng vật chất sở dĩ khác nhau là do mỗi loại có một thứ nguyên tử khác với loại khác. C̣n các nhà triết học đạo Giainơ (Jain) th́ cho rằng nguyên tử nào cũng như nhau, chỉ có các tổ hợp khác nhau mà thôi.Người Ấn Độ cổ đại cũng đă biết được sức hút của quả đất. Sách Siddhantas viết vào thế kỷ V TCN đă ghi rằng: " Quả đất, do trọng lực của nó, hút tất cả mọi vật về nó".

·Y dược học

Ấn Độ cổ đại có những thành tựu rất lớn và sớm hơn nhiều so với các nước khác. Trong các tập Vêđa đă kể ra rất nhiều thứ bệnh và ngay từ thời bấy giờ, các thầy thuốc Ấn Độ đă biết dùng phẫu thuật để chữa bệnh. Từ thế kỷ VI, V TCN, người Ấn Độ đă biết cách chắp xương sọ, cắt màng mắt, mổ bụng lấy thai, lấy sỏi thận v.v...Những thày thuốc nổi tiếng trong thời cổ đại là Xusruta (Sushruta), Saraca.Xusruta sống vào thế kỷ V TCN. Ông vừa là thày thuốc vừa là thày giáo dạy ở trường Y khoa Bênarét. Ông viết một quyển sách bằng tiếng Xanxcrít về phương pháp khám bệnh và chữa bệnh, trong đó mô tả rất kỹ về các môn giải phẫu, sản khoa, cách nuôi trẻ... Mặc dầu bị các tu sĩ Bàlamôn phản đối, ông chủ trương phải mổ tử thi để nghiên cứu và thực tập. Chính ông là người đầu tiên đă lột một miếng da trên thân thể để đắp vào vành tai bị cắt đứt.Saraca sống vào thế kỷ II, là ngự y của vua Canisca thuộc vương triều Cusan. Tác phẩm của ông có nhan đề là Xamhita (Samhita) là một quyển sách y học từ sớm đă được dịch ra tiếng Arập, sau đó c̣n được dịch ra nhiều thứ tiếng khác trên thế giới và đến nay vẫn c̣n giá trị tham khảo. Trong tác phẩm ấy, ông xác định bổn phận của người thầy thuốc là trị bệnh th́ đừng nghĩ đến ḿnh, đừng v́ lợi mà chỉ nên nghĩ đến nhiệm vụ cứu nhân độ thế.Các tập Vêđa cũng là những tác phẩm dược học cổ nhất, trong đó đă nêu ra hàng trăm loại thuốc thảo mộc. Song song với sự phát triển sớm của thuật giải phẫu, người Ấn Độ đă biết chế thuốc tê cho bệnh nhân uống để giảm đau khi mổ.Ngoài các ngành nói trê, người Ấn Độ c̣n nhiều hiểu biết về các môn Hóa học, Sinh học, Nông học... do đó đă phục vụ đắc lực cho các lĩnh vực khoa học khác và các nghề thủ công như luyện thép, nhuộm, thuộc da v.v...

5. Tôn giáo

Ấn Độ là nơi sản sinh ra rất nhiều tôn giáo, trong đó quan trọng nhất là đạo Bàlamôn về sau là đạo Hinđu và đạo Phật. Ngoài ra c̣n có một số tôn giáo khác như đạo Jain, đạo Xích.

· Đạo Bàlamôn - Đạo Hinđu

A. Đạo Bàlamôn

Trong thời kỳ đầu của thời Vêđa, quan niệm tín ngưỡng của người Ấn Độ c̣n mang nhiều dấu vết của thời nguyên thủy. Họ tin rằng vạn vật đều có linh hồn nên họ sùng bái rất nhiều thư, sùng bái các hiện tượng tự nhiên, người chết và nhiều loại động vật....Đến những thế kỷ đầu của thiên kỷ I TCN, do sự phát triển của xă hội có giai cấp và do sự không b́nh đẳng về đẳng cấp ngày càng sâu sắc, từ các h́nh thức tín ngưỡng dân gian dần dần đă tập hợp thành một tôn giáo lớn gọi là đạo Bàlamôn.

Như vậy, đạo Bàlamôn là một tôn giáo không có người sáng lập, không có tổ chức giáo hội chặt chẽ.Đạo Bàlamôn là một tôn giáo đa thần trong đó cao nhất là thần Brama. Đó là vị thần sáng tạo thế giới. Tuy vậy, có nơi cho thần Siva, vị thần phá hoại là thần cao nhất; có nơi lại cho thần Visnu, thần bảo vệ, thần ánh sáng, thần bốn mùa, thần làm cho nước sông Hằng dâng lên và làm cho mưa tưới cho ruộng đồng tươi tốt là vị thần cao nhất. Do vậy, đến những thế kỷ đầu công nguyên, đạo Bàlamôn chia thành hai phái là phái thờ thần Siva và phái thờ thần Visnu. Để thống nhất các phái đó, đạo Bàlamôn nêu ra quan niệm thần sáng tạo Brama, thần phá hoại Siva và thần bảo vệ Visnu tuy là ba nhưng vốn là một.Ngoài ra, nhiều loại động vật như voi, khỉ, và nhất là ḅ cũng là những đối tượng sùng bái của đạo Bàlamôn.

Trong giáo lư của đạo Bàlamôn có một nội dung rất quan trọng, đó là thuyết luân hồi. Đạo Bàlamôn giải thích rằng linh hồn của con người là một bộ phận của Brama mà Brama là một tồn tại vĩnh hằng, cho nên con người tuy có sống có chết, nhưng linh hồn th́ c̣n măi măi và sẽ luân hồi th́ c̣n măi măi và sẽ luân hồi trong nhiều kiếp sinh vật khác nhau. Những người giữ đúng luật lệ của tôn giáo và các quy tắc mà thần đă định sẵn cho ḿnh th́ kiếp sau sẽ được đầu thai thành người cao quư, trái lại th́ sẽ càng khổ cực, thậm chí sẽ bị đầu thai làm chó lợn và những động vật bẩn thỉu.Về mặt xă hội, đạo Bàlamôn là công cụ đắc lực bảo vệ chế độ đẳng cấp ở Ấn Độ.

Trước khi đạo Bàlamôn ra đời, trong quá tŕnh tan ră của chế độ công xă nguyên thủy của người Arya, chế độ đẳng cấp đă xuất hiện rồi. Đó là chế độ chia cư dân tự do thành 4 đẳng cấp: Braman, Ksatơrya, Vaisya, Suđra.Braman (Bàlamôn) là đẳng cấp của những người làm nghề tôn giáo.Ksatơrya là đẳng cấp của các chiến sĩ.Vaisya là đẳng cấp của những người b́nh dân làm các nghề như chăn nuôi, làm ruộng, buôn bán, một số nghề thủ công.Suđra là đẳng cấp của những người cùng khổ, vốn là con cháu của các bộ lạc bại trận, không có tư liệu sản xuất.Nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của chế độ đẳng cấp là do sự phân hóa giai cấp, sự phân công về nghề nghiệp và sự phân biệt về bộ tộc. Nhưng các tăng lữ Bàlamôn th́ dùng uy lực của thần linh để giải thích hiện tượng xă hội ấy. Ví dụ, luật Manu, một bộ luật về tập quán được hoàn thành vào khoảng đầu công nguyên chép:"V́ sự phồn vinh của cả thế giới, từ mồm, tay, đùi và bàn chân của ḿnh, ngài (thần Brama) đă tạo nên Braman, Ksatơrya, Vaisya và Suđra".Trong 4 đẳng cấp ấy, đẳng cấp Bàlamôn có địa vị cao nhất. Luật Manu viết: "Do sinh ra từ bộ phận cao quư nhất của thân thể Brama, do sinh ra sớm nhất, do hiểu biết Vêđa, Bàlamôn có quyền là chúa tể của tất cả các tạo vật ấy".Ngoài Bàlamôn, chỉ có hai đẳng cấp Ksatơrya và Vaisya mới được trở thành tín đồ của đạo Bàlamôn và cả ba đẳng cấp trên được quan niệm là những người sinh hai lần; c̣n Suđra không được dự các buổi lễ tôn giáo và được quan niệm là những người sinh một lần.

Đạo Bàlamôn đă truyền bá rộng răi ở Ấn Độ trong nhiều thế kỷ. Đến khoảng thế kỷ VI TCN, ở Ấn Độ xuất hiện một tôn giáo mới là đạo Phật. Đạo Bàlamôn bị suy thoái trong một thời gian dài.

B. Đạo Hinđu (Ấn Độ giáo)

Sau một thời gian hưng thịnh, đến khoảng thế kỷ VII, đạo Phật bị suy sụp ở Ấn Độ. Nhân t́nh h́nh đó đạo Bàlamôn dần dần được phục hưng, đến khoảng thế kỷ VIII, IX đạo Bàlamôn đă bổ sung thêm nhiều yếu tố mới về đối tượng sùng bái, về kinh điển, về nghi thức tế lễ... Từ đó, đạo Bàlamôn được gọi là đạo Hinđu, trước đây ta hay gọi là Ấn Độ giáo.

Đối tượng sùng bái của đạo chủ yếu của đạo Hinđu vẫn là ba thần Brama, Siva và Visnu.Thần Brama được thể hiện bằng một h́nh tượng có 4 đầu để chứng tỏ thần có thể nh́n thấu mọi nơi. Bốn tập kinh Vêđa chính là được phát minh ra từ 4 cái miệng của thần Brama.Thần Siva được thể hiện thành h́nh tượng có mắt thứ ba ở trên trán, luôn luôn cầm một cái đinh ba Siva thường cưỡi ḅ hoặc ngồi trên tấm da hổ, có những con rắn hổ mang quấn quanh cổ. Thần Siva là thần phá hoại những thứ mà thần Brama sáng tạo ra, nhưng Siva cũng có mặt sáng tạo. Sự sáng tạo ấy được thể hiện qua h́nh tượng linga - yoni mà nhân dân Ấn Độ sùng bái.Liên quan đến thần Siva có nữ thần Kali (c̣n gọi là nữ thần Pácvati), vợ của thần Siva và thần Ganêxa, con trai của thần.Nữ thần Kali (Pavacti) được thể hiện thành h́nh tượng một phụ nữ mặt đen, miệng há hoác, lưỡi lè ra. Nữ thần cũng trang sức bằng những con rắn, đeo hoa tai bằng xác đàn ông, chuỗi hạt là những sọ người, mặt và ngực bôi đầy máu. Thần có 4 tay, một tay cầm gươm, một tay cầm một đầu người, c̣n hai tay nữa th́ đưa ra để ban phúc lành. Trước kia có khi phải giết người để tế thần Kali, về sau chỉ cúng bằng dê cái.Thần Ganêxa tuy có h́nh thù kỳ dị đầu voi ḿnh người nhưng đó là thần trí tuệ và thịnh vượng.Thần Visnu được quan niệm là đă giáng trần 9 lần. Trong sáu lần đầu, thần xuất hiện dưới dạng các động vật như cá, lợn rừng... Đến lần thứ 7, thần Visnu chính là Rama, nhân vật chính trong sử thi Ramayana. Lần thứ 8, thần Visnu giáng thế thành thần Krisna. Thần Krisna thường bênh vực kẻ nghèo, chữa bệnh cho người mù, người điếc và làm cho người chết sống lại. Lần thứ 9, thần Visnu biến thành Phật Thích ca. Đây là một biểu tượng chứng tỏ đạo Hinđu có tiếp thu một số yếu tố của đạo Phật, đồng thời đây cũng là một thủ đoạn để đạo Hinđu thu hút các tín đồ đạo Phật cải giáo theo đạo Hinđu. Đến kiếp thứ 10 tức là lần giáng sinh cuối cùng, thần Visnu sẽ biến thành thần Kali. Đó là vị thần sẽ hủy diệt thế giới cũ tội lỗi, tạo dựng thế giới mới với đạo đức trong sáng.

Ngoài các vị thần nói trên, các loài động vật như khỉ, ḅ, rắn, hổ, cá sấu, chim công, vẹt, chuột v.v... cũng là các thần đạo Hinđu, trong đó được tôn sùng hơn cả là thần khỉ và thần ḅ.Thần khỉ Hanuman sở dĩ được tôn thờ v́ có công giúp Rama (tức là Visnu) giết được quỷ Ravan để đưa Sita trở về quê hương. V́ vậy thần Hanuman được coi là thần Sức Mạnh và thần Trung thành. Để cúng thần Hanuman người theo đạo Hinđu ăn chay vào ngày thứ ba hàng tuần. H́nh thức ăn chay là ban ngày chỉ uống nước, tối mới được ăn.Thần ḅ Kamđênu được thần Krisna (kiếp thứ 8 của Visnu) chăn dắt, suốt đời đi theo Krisna. Thần Kamđênu được quan niệm là do thần Brama tạo ra đồng thời với đẳng cấp Bàlamôn và được coi là mẹ của hầu hết các thần. V́ vậy, cho đến nay, ḅ được coi là một con vật thiêng liêng. Tín đồ đạo Hinđu không những kiêng ăn thịt ḅ mà c̣n không dùng những đồ dùng làm bằng da ḅ.Đạo Hinđu cũng chia thành hai phái là phái thờ thần Visnu và phái thờ thần Siva.Mỗi buổi sáng, tín đồ phái Visnu dùng son vẽ lên trán, c̣n tín đồ phái Siva th́ bôi lên lông mày một vạch ngang bằng than phân ḅ cái hoặc đeo ở tay, ở cổ cái linga. Tuy nhiên hai phái đó vẫn đoàn kết với nhau và có khi cùng cúng tế trong một ngôi đền.

Đạo Hinđu cũng chú trọng thuyết luân hồi, cho rằng con người sau khi chết, linh hồn sẽ đầu thai nhiều lần. Mỗi lần đầu thai như vậy con người sẽ sung sướng hơn hay khổ cực hơn kiếp trước là tuỳ thuộc vào những việc làm của kiếp trước tức là quả báo (Karma).Kinh thánh của đạo Hinđu, ngoài các tập Vêđa và Upanisát c̣n có Mahabharata, Bhagavad Gita, Ramayana và Purana.Mahabharata, Bhagavad Gita và Ramayana là những tập trường ca, c̣n Purana là tập truyện cổ nói về sự sáng tạo, sự biến chuyển và sự hủy diệt của thế giới.Sau khi phục hưng, đạo Hinđu được các vương công Ấn Độ hết sức ủng hộ, do đó đă xây dựng nhiều ngôi chùa nguy nga và ban cấp cho rất nhiều ruộng đất, có khi lên đến hàng ngh́n làng.Trong các chùa ấy đă tạc rất nhiều tượng thần để thờ. Các tượng thần đạo Hinđu thường có h́nh thù kỳ dị đáng sợ như nhiều đầu, nhiều mắt, nhiều tay.... Trong các chùa lớn có tới hàng ngh́n tu sĩ Bàlamôn và hàng ngh́n vũ nữ.Khi tế lễ, các tu sĩ thường xoa dầu, xức nước hoa cho tượng, dùng thịt dê cùng các thức ăn uống khác để cúng thần. Trong khi cử hành lễ cúng, các thầy tu đọc kinh, c̣n các vũ nữ th́ múa những điệu múa tôn giáo.

Về tục lệ, đạo Hinđu cũng hết sức coi trọng sự phân chia đẳng cấp. Đến thời kỳ này, do sự phát triển của các ngành nghề, trên cơ sở 4 đẳng cấp cũ (varna) đă xuất hiện rất nhiều đẳng cấp nhỏ mới gọi là jati.Những đẳng cấp nhỏ này cũng có sự phân biệt về địa vị xă hội rất khắt khe, đóng kín về mọi mặt và đời đời cha truyền con nối. Đặc biệt đạo Hinđu hết sức khinh bỉ và ghê tởm tầng lớp lao động nghèo khổ phải làm các nghề bị coi là hèn hạ như quét rác, đồ tể, đao phủ, đốt than, đánh cá v.v... Những người làm các nghề đó bị coi là những người ô uế, không thể tiếp xúc được. Nếu những người sạch sẽ nhỡ đụng chạm vào họ th́ phải tẩy uế. Nếu nhiễm uế nhẹ th́ chỉ cần vẩy nước thánh là được; nếu nặng th́ phải rửa bằng nước tiểu ḅ, thậm chí phải uống một thứ nước gồm 5 chất của ḅ cái: sữa lỏng, sữa đặc, bơ, nước tiểu và phân.

Cafe
24-04-2010, 04:10 PM
#6


Văn Minh Ai Cập Cổ Đại.


I. Tổng quan:

1. Địa lư và cư dân:

Ai Cập nằm ở Đông Bắc châu Phi, dọc vùng hạ lưu của lưu vực sông Nil, sông Nil bắt nguồn từ vùng xích đạo của châu Phi, dài 6700 km, nhưng phần chảy qua Ai Cập chỉ dài 700 km. Miền đất đai do sống Nil bồi đắp chỉ rộng 15-25 km, phía Bắc có nơi rộng 50 km v́ ở dây sông Nil chia thành nhiều nhánh trước khi đổ ra biển. Hằng năm từ tháng 6-11, nước sông Nil dâng cao đem theo một lượng phù sa phong phú bồi đắp cho vùng đồng bằng hai bên bờ ngày càng thêm màu mỡ. Do đó, nền kinh tế nơi đây phát triển sớm tạo điều kiện cho Ai Cập có thể bước vào xă hội văn minh sớm nhất thế giới. Nhà sử học Hêrôđôp đă nói rằng: "Ai Cập là tặng phẩm của sông Nil".

Ai Cập chịu ảnh hưởng của khí hậu Ai Cập, ngoại trừ khu vực phía Bắc chịu ảnh của Địa Trung Hải, v́ vậy ở Ai Cập số ngày mưa rất ít, quang năm trời nắng, bầu trời luôn trong xanh, độ ẩm không khí thấp. Tuy nhiên, cũng nhờ điều này mà người Ai Cập lại thuận lợi trong việc quan sát thiên văn và giữ ǵn khá lâu những di sản của nền văn ḿnh Ai Cập, cụ thể là bảo quản được loại giấy Papyrus.

Tuy nhiên, về địa h́nh, Ai Cập là một nước tương đối bị đóng kín, phía Bắc là Địa Trung Hải, phía Đông giáp Biển Đỏ, phía Tây giáp sa mạc Xahara, phía Nam giáp Nubi, nới giáp ấy là một vùng núi hiểm trở khó qua lại. Chỉ có ở Đông Bắc, vùng kênh đào Xuyê sau này, người Ai Cập cổ đại mới có thể qua lại với vùng Tây Á.

Ai Cập chia làm hai miền rơ rệt theo ḍng chảy của sông Nil từ Nam lên Bắc: miền Thượng Ai Cập (miền Nam) là một dải lưu vực hẹp, miền Hạ Ai Cập (miền Bắc) là một đồng bằng h́nh tam giác.

Về tài nguyên, thiên nhiên, Ai Cập có rất nhiều loại đá quư như đă vôi, badan, hoa cương, mă năo...Kim loại th́ có đồng, vàng, c̣n sắt th́ phải đưa từ bên ngoài vào,

Ngay từ thời rất sớm, trên lănh thổ Ai Cập đă có con người, họ chính là những thổ dân châu Phi. Châu Phi là một trong những cái nôi, địa bàn h́nh thành con người và trong quá tŕnh săn bắt, hái lượm ở vùng phía Đông châu Phi, các thổ dân này đi đến thung lũng sông Nil bởi nơi đây có nhiều điều kiện thuận lợi: nguồn nước phong phú, đất phù sa ph́ nhiêu nên họ đă chọn nơi này để định cư. Về sau có một dân tộc khác, vốn cư trú ở vùng Palestine theo ngă Đông Bắc của Ai Cập tràn vào chiếm lĩnh vùng thung lũng sông Nil và chinh phục các thổ dân ở đây và trải qua một quá tŕnh chung sống lâu dài, tạo nên một hỗn hợp chủng tộc và đó chính là tổ tiên của người Ai Cập hiện nay, đồng thời chính họ là chủ nhận của nền văn minh sông Nil. Như vậy, tóm lại, cư dân chủ yếu của Ai Cập ngày nay là người Ả Rập nhưng thời cổ đại là người Libi, người da đen và người Xêmit từ châu Á tới.

2.Thời kỳ h́nh thành và phát triển:

Về cơ bản, hiện nay chúng ta có thể chia thành 5 thời kỳ:

1.Thời kỳ Tảo Vương Quốc (3200-3000 TCN)
2.Thời kỳ Cổ Vương Quốc (3000-2200 TCN)
3.Thời kỳ Trung Vương Quốc (2200-1570 TCN)
4.Thời kỳ Tân Vương Quốc (1570-1100 TCN)
5.Ai Cập từ TK V-I TCN

2.1 Thời kỳ Tảo Vương Quốc:

Vào khoảng nửa sau thiên niên kỷ IV TCN, do sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự phân hoá giàu nghèo, các công xă nông thôn đă liên hiệp lại thành những nhà nước nhỏ đầu tiên gọi là châu. Dần dần, những châu ấy hợp lại thành hai miền Thương và Hạ Ai Cập. Tiếp đó, qua đấu tranh, hai miền Thượng-Hạ Ai Cập mới thống nhất thành Ai Cập. Từ khi nhà nước Ai Cập thống nhất ra đời cho đến năm 3000 TCN, ở Ai Cập đă trả qua hai vương triều: vương triều I và II gọi chung là thời Tảo Vương Quốc.

Vào thời kỳ này, người Ai Cập đă biết sử dụng công cụ bằng đồng đỏ, biết dùng cày và súc vật để kéo cày. Người đứng đầu nhà nước là một ông vua chuyên chế gọi là Pharaon.

2.2 Thời kỳ Cổ Vương Quốc:

Bao gồm 8 vương triều, từ vương triều III đến vương triều X. Đầu thời Cổ Vương Quốc, chế độ tập quyền trung ương càng được củng cố, kinh tế phát triển hơn trước. Trên cơ sở ấy, các Pharaon đă huy động sức người, sức của để xây dựng cho ḿnh những Kim tự tháp rất đồ sộ. Nhưng từ vương triều V, thế lực của chính quyền trung ương bắt đầu suy giảm, đến vương triều VII, nền thống nhất không duy tŕ được nữa.

2.3 Thời kỳ Trung Vương Quốc:

Bao gồm 7 vương triều, từ vương triều XI đến vương triều XI đến vương triều XII là thời kỳ ổn định nhất. Nhưng đến năm 1570 TCN, ở Ai Cập đă nổ ra một cuộc khởi nghĩa của dân nghèo. Từ đó Ai Cập bị suy yếu. Đến năm 1710 TCN, miền bắc Ai Cập bị người Hichxốt ở Palestine chinh phục và thống trị 140 năm. Trong thời gian ấy, miền Nam Ai Cập cũng phải thần phục vương triều ngoại tộc.

2.4 Thời kỳ Tân Vương Quốc:

Năm 1570 TCN, người Hichxot bị đánh đuổi khỏi Ai Cập, đất nước thống nhất, thời Tân Vương Quốc bắt đầu. Thời kỳ này gồm 3 vương triều, từ vương triều XVIII đến XX. Các vua đầu vương triều XVIII tích cực thi hành chính sách xâm lược bên ngoài đă chinh phục được Xyri, Phênixi, Palestine ở châu Á và Libi, Nubi ở châu Phi.

Cuối vương triều XVIII, do thế lực của tầng lớp tăng lữ thờ thần mặt trời Amon phát triển quá mạnh, lấn át cả uy quyền của vua, v́ vậy, để làm suy yếu thế lực của tầng lớp tăng lữ, vua Ichnaton đă tiến hành một cuộc cải cách tôn giáo, nhưng chính sách cải cách này chỉ được thi hành một thời gian ngắn mà thôi.

Về công cụ sản xuất, từ thời Trung Vương Quốc , đồng thau đă ra đời nhưng chất lượng c̣n kém và c̣n ít. Đến thời Tân Vương Quốc, đồng thau mới được sử dụng rộng răi, đồng thời sắt đă bắt đầu xuất hiện nhưng c̣n rất hiếm.

2.5 Ai Cập từ thế kỷ X-I TCN.

Từ thế kỷ X TCN, Ai Cập hết bị chia cắt lại bị ngoại tộc thống trị. Đặc biệt, từ năm 525 TCN, Ai Cập bị nhập vào đế quốc Ba Tư ở Tây Á. Năm 323 TCN, Ai Cập bị Alexandre ở Machedonia chinh phục. Sau khi đế quốc Machedonia tan ră, Ai Cập thuộc quyền thống trị của một vương triều Hy Lạp gọi là vương triều Ptoleme. Đến năm 30 TCN, Ai Cập thành một tỉnh của đế quốc La Mă.

II. Những thành tựu chủ yếu của nền văn minh Ai Cập cổ đại.

Trên cơ sở công cụ bằng đồng và nền kinh tế nông nghiệp, cư dân Ai Cập cổ đại từ rất sớm đă sáng tạo nên một nền văn minh tinh thần vô cùng rực rỡ, trong đó, những thành tựu chủ yếu là chữ viết, văn học, kiến trúc và các kiến thức khoa học tự nhiên.

1. CHỮ VIẾT

Từ khi xă hội có giai cấp bắt đầu h́nh thành, chữ viết ở Ai Cập đă ra đời. Chữ viết của Ai Cập lúc đầu là chữ tượng h́nh, tức là muốn viết chữ để biểu thị một vật ǵ th́ vẽ h́nh thù của vật ấy. V́ vậy, nh́n vào các bản chữ viết Ai Cập cổ đại, ta thấy các h́nh vẽ như người, các loại động vật (chim, gia súc, dă thú, côn trùng), cây cối, mặt trời, mặt trăng, sao nước, núi non…

Đối với các khái niệm trừu tượng hoặc phức tạp th́ phải dùng phương pháp mượn ư. Ví dụ muốn viết chữ khát th́ vẽ h́nh con ḅ đứng bên cạnh chữ nước, chữ chính nghĩa th́ vẽ lông đà điểu, v́ lông đà điểu hầu như dài bằng nhau. Tuy nhiên, hai phương pháp ấy chưa đủ để ghi mọi khái niệm, v́ vậy dần dần xuất hiện những h́nh vẽ biểu thị âm tiết. Những h́nh vẽ biểu thị âm tiết này vốn là những chữ biểu thị một từ nhưng đồng âm với âm tiết mà người ta muốn sử dụng. Ví dụ, con mắt trong tiếng Ai Cập là ar, do đó h́nh con mắt biểu thị âm tiết ar. Dần dần, những chữ chỉ âm tiết biến thành chữ cái, ví dụ “ḥn núi nhỏ” đọc là “ca” được dung để biểu thị âm k. Tổng số chữ tượng h́nh của Ai Cập cổ đại có khoảng 1000 chữ, trong đó số chữ cái có 24 chữ.

Vào thiên niên kỷ II TCN, người Hichxot đă học tập chữ cái của người Ai Cập để ghi ngôn ngữ của ḿnh. Về sau, loại chữ viết ấy được truyền sang Phenixi, trên cơ sở ấy, người Phenixi đă sáng tạo ra vần chữ cái đầu tiên trên thế giới.

Chữ viết cổ của Ai Cập thường được viết trên đá, gỗ, đồ gốm, vải gai, da… nhưng chất liệu dùng để viết phổ biến nhất là giấy papyrus. Vốn là ở hai bên bờ sông Nil có loại cây tên papyrus, người Ai Cập lấy thân loại cây nè chẻ thành từng thanh mỏng, ghép các thanh ấy thành những tờ giấy, ép mỏng rồi phơi khô. Đó là loại giấy sớm nhất thế giới. Do vậy, về sau trong ngôn ngữ nhiều nước châu Âu, giấy được gọi là papier, paper… Để viết trên loại giấy đó, người Ai Cập cổ dùng bút làm bằng thân cây sậy, c̣n mực th́ làm bằng bồ hóng. Loại chữ tượng h́nh này được dùng trong hơn 3000 năm, sau đó, không c̣n ai biết đọc loại chữ này nữa.

Vào thế kỷ V, một học giả Ai Cập tên Ghêrapôlông đă nghiên cứu cách đọc loại chữ cổ này nhưng không thành công. 1000 năm sau, đến thế kỷ XVII mới có một số người đặt lại vấn đề đó nhưng vẫn chưa có kết quả.

Năm 1798, Bônapác (tức Napoleon sau này) viễn chinh sang Ai Cập. Tại một địa điểm gần thành phố Rosetta, trong khi đào chiến hào, binh lính Pháp đă phát hiện được một tấm bia, đặt tên là tấm bia Rosetta, trên tấm bia này khắc hai thứ chữ: phần trên khắc chữ Ai Cập cổ, phần dưới khắc chữ Hy Lạp. Ngay sau đó, các học giả t́m cách giải mă thứ chữ đó nhưng kết quả vẫn chưa hơn ǵ những lần trước. Măi đến năm 1822, Champollion, một nhà ngôn ngữ học người Pháp 32 tuổi mới t́m được cách đọc thứ chữ này. Chính từ đó, một môn khoa học mới ra đời, đó là môn Ai Cập học. Học giả nhiều nước như Pháp, Đức, Anh… đă nghiên cứu ngôn ngữ Ai Cập, biên soạn sách tiếng Ai Cập cổ, đặc biệt biên soạn cuốn Từ điển tượng h́nh Ai Cập. Nhờ đọc được chữ Ai Cập cổ, người ta mới biết được nhiều tư liệu quư giá thuộc các lĩnh vực như lịch sử, văn học, thiên văn, toán học…của Ai Cập cổ đại.


c̣n tiếp...

Cafe
24-04-2010, 04:11 PM
Tiếp theo
#6


.VĂN HỌC

Ai Cập cổ đại có một kho tàng văn học khá phong phú, bao gồm tục ngữ, thơ ca trữ t́nh, các câu chuyện mang tính chất đại lư, giáo huấn, trào phúng, truyện thần thoại…Trong số đó, Truyện hai anh em, Nói Thật và Nói Láo, Lời răn dạy của Đuaup, Sống sót sau vụ đắm thuyền v.v…là những truyện tương đối tiêu biểu.

Truyện Nói Thật và Nói Láo kể chuyện hai anh em, người anh tên là Nói Láo, người em tên là Nói Thật. Nói Láo huênh hoang rằng có một vật có thể chứa được cả núi rừng. Nói Thật không chứng minh được như thế là nói láo nên đă bị móc mắt. Nói Thật trở thành đầy tớ của người anh và bị đày đọa rất cực khổ. Nhưng có một cô gái xinh đẹp đă yêu và lấy anh chàng mù ḷa và sinh được một đứa con trai. Lớn lên đứa con quyết báo thù cho cha. Một hôm, nó dắt một con ḅ của ḿnh đến nhà của Nói Láo. Nói Láo muốn đổi con ḅ, nhưng đứa bé không đồng ư, lại c̣n bịa ra nhiều chuyện hoang đường về con ḅ của ḿnh. Hơn nữa nó c̣n xin các thần phán xử Nói Láo. Các thần không tin những lời bịa đặt về con ḅ, và nhớ lại những chuyện hoang đường mà trước kia Nói Láo đă bịa đặt, v́ vậy cuối cùng đứa bé đă thắng được kiện.

Lời kể của Ipuxe nói về những biến động lớn lao trong xă hội do cuộc khởi nghĩa quần chúng năm 1750 TCN đem lại:

“Hăy xem: Sự việc h́nh như không bao giờ xảy ra ấy cuối cùng đă xảy ra rồi. Nhà vua đă bị những người nghèo khổ bắt.”
“Hăy xem: Những người trong cung đ́nh đă bị đuổi ra khỏi cung điện của nhà vua.”
“Hăy xem: Dân thường trong nước đă biến thành phú ông. Những người giàu có đă biến thành những người không có của cải.”
“Hăy xem: Những người vốn bị quản lư th́ lại biến thành chủ nô. Những kẻ bản thân ḿnh vốn bị người khác sai khiến th́ nay lại sai khiến người khác.”

Lời răn dạy của Đuaup là những lời của người cha trên đường tiễn con lên kinh đô để học, khuyên con phải chăm chỉ học tập để sau này làm quan, nếu không sẽ phải làm thợ thủ công, mà làm thợ ǵ cũng rất cực khổ:

“Ta chưa hề thấy người thợ điêu khắc hoặc người thợ làm đồ trang sức được làm sứ giả, nhưng ta lại thấy một người thợ đồng làm việc bên ḷ. Ngón tay của anh ta giống như da cá sấu, mùi trên ḿnh anh ta c̣n hôi hơn cá”.

“Con xem, ngoài nghề làm quan ra, không có một nghề nghiệp nào là không có người cai quản, v́ bản thân ông quan mới là người cai quản”.

Truyện Sống sót sau vụ đắm thuyền nói về một người vâng lệnh vua cùng 120 thủy thủ đi thuyền đến một vùng mỏ. Giữa biển, thuyền gặp băo, tất cả thủy thủ đều chết, chỉ có một ḿnh người ấy nhờ có một khúc gỗ nên được sống sót. Anh ta bị giạt vào một ḥn đảo. Chúa đảo là một con rắn lớn, đă dùng mồm cắp anh về chỗ ở của rắn. Rắn bảo anh ta cứ yên tâm ở lại đó, sau 4 tháng sẽ có thuyền từ kinh thành đến đón anh về. Sự việc xảy ra đúng như lời rắn nói. Anh hết lời cảm ơn rắn. Khi rời đảo, rắn tặng anh nhiều tặng phẩm, chúc anh lên đường mạnh khỏe và nói anh rằng sau khi rời ḥn đảo th́ đảo sẽ biến thành làn sóng. Hai tháng sau, thuyền về đến kinh thành, anh yết kiến vua, dâng lễ vật từ đảo đem về, được vua phong cho làm thị vệ.

3. TÔN GIÁO

- Cư dân Lưỡng Hà thờ đa thần giáo: bao gồm các thần trong tự nhiên, sùng bái các loài động vật, và thờ cúng người chết.
- Thần trong tự nhiên:
+ Thần trời Anu, đây là vị thần cao nhất, là cha các vị thần
+ Thần đất: Enlin, rất quan trọng.
+ Thần nước: Ea, con của thần Anu.
- Các loài động vật cũng được sùng bái, nhưng chủ yếu thể hiện qua các con vật tưởng tượng. (quái nhân hay nhân sư ḿnh sư tử đầu người)
- Việc thờ cúng người chết cũng được người Lưỡng Hà chú trọng từ sớm.
+ Họ quan niệm người chết có linh hồn và có thế giới bên kia.
+ Người chết được chôn cất theo những nghi lễ khác nhau và chôn kèm theo công cụ, hiện vật và đồ trang sức...


c̣n tiếp...

Cafe
24-04-2010, 04:12 PM
Tiếp theo
6#


4. LUẬT PHÁP

Lưỡng Hà là khu vực có những bộ luật cổ xưa nhất khoảng thế kỉ XXIII-XXI TCN. (Bộ luật cổ xưa nhất nay chỉ c̣n một số đoạn)
Luật Hammurabi là bộ luật nổi tiếng và quan trọng nhất của thế giới cổ đại, ngày nay c̣n nguyên vẹn.
Luật Hammurabi là bộ luật chính ông là người soạn thảo và lấy tên ông đặt cho bộ luật.

5. NGHỆ THUẬT

Kiến trúc: Chủ yếu là đền tháp, cung điện. Tiêu biểu là kiến trúc thành Babilon và đặc biệt là vườn hoa Babilon, là kiến trúc nổi tiếng của thế giới cổ đại, một trong bảy ḱ quan thế giới cổ đại, nay không c̣n.
Điêu khắc: Tiêu biểu là tượng và những bức phù điêu. Nổi tiếng như: tượng thầm Átxiri và bia luật Hammurabi.

6. KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Toán học

- Người Lưỡng Hà cũng có nhiều đóng góp cho nền toán học thế giới.
- Từ sớm , dưới thời người lưỡng Hà họ đă biết lấy 5 làm cơ sở của phép đếm, về sau họ lại lấy 60 làm cơ sở.
- Toán của người Lưỡng Hà cũng trên cơ sở của số tượng h́nh (Theo kí hiệu các góc nhọn)
- Người Lưỡng Hà tính được ṿng tṛn = 360 o, 1 độ = 60’, 1 phút bằng 60 giây
- Về số học: Biết làm 4 phép tính, biết phân biệt phân số, luỹ thừa, căn bậc 2,3, biết giải phương tŕnh 3 ẩn số.
- H́nh học: Biết tính diện tích h́nh chữ nhật, h́nh vuông, h́nh cầu, tam giác… tính được số pi = 3, đặc biệt là họ biết được mối quan hệ giữa 3 cạnh trong một tam giác vuông.
Thiên văn học
- Lưỡng Hà có điều kiện tự nhiên thuận lợi, một năm có đến 8 tháng bầu trời trong xanh, họ dễ dàng quan sát bầu trời. Chính v́ vậy, thiên văn học cũng được người Lưỡng Hà chú trọng từ rất sớm, nên họ cũng có nhiều đóng góp cho nền thiên văn học thế giới.
Người Lưỡng Hà đă biết đến 7 hành tinh (mặt trăng, mặt trời và 5 hành tinh khác). Họ biết tính chu ḱ của các hành tinh.
- Biết phát minh ra lịch từ thời người Xume (lịch âm). Một năm có 12 tháng, 6 tháng đủ, 6 tháng thiếu. tháng đủ 30 ngày, tháng thiếu 29 ngày.
- Theo âm lịch th́ một năm có 354 ngày, thiếu 11 ngày so với dương lịch, người ta đă khắc phục bằng cách thêm vào 1 tháng nhuận
- Họ cũng đă biết chia một tháng thành 4 tuần, một tuần có 7 ngày, một ngày có 12 giờ, mỗi giờ là 30 phút.

Y học

Người Lưỡng Hà cũng biết đến nhiều loại bệnh và cũng biết chữa nhiều bệnh: Hô hấp, tim mạch, tai mắt…
Họ biết chia thành các khoa chuyên môn để chữa bệnh: khoa nội, khoa ngoại.
Họ cũng biết dùng phẫu thuật để chữa bệnh.



#7

ồi mai gốt !
bọn anh sắp vô môn này, đề cương dài thế này học sao đây :/
may mà điện thoại a đọc đc word, cop vào máy, học ko dc nhưng quay th́ biết đâu đấy :lol:

#8

khoa nào cũng phải học môn này hả chị?

#9

@a kosay: c̣n tùy vào học cô nào nữa ạ. Lớp e học cô Cúc. Theo thông tin cô đưa ra th́ mọi năm cô cho photo đề cương để học nhưng từ năm nay trở đi cô không phát đề cương nữa v́ h́nh thức thi là trắc nghiệm kết hợp tự luận nên bắt buộc phải học ở trong vở cô chứ không thể dựa vào đề cương. Tốt nhất với môn này là mọi người nên chăm chú nghe giảng và ghi đầy đủ ư trên lớp.

@giang: tất cả các khoa đều phải học th́ phải

#10

Đây chỉ là tài lịu sưu tầm trên mạng, nhưng h́nh như học theo chương tŕnh ḿnh c̣n nặng hơn :( nếu là thi trắc nghiệm th́ chắc có dùng laptop cũng chẳng way kịp ư ạ :lol: môn này đúng là khó nhằn, chắc phải cố nhồi thui hik hik

Cafe
14-06-2010, 09:20 PM
Trong máy ḿnh có 1 ít tài liệu môn này nên ḿnh up lên cho những bạn nào có nhu cầu tham khảo hoặc ôn thi.

Slie giáo án TÂY ÂU THỜI HẬU KỲ TRUNG ĐẠI
http://www.mediafire.com/download.php?nr4yt3noccm



pass: cafe

vanminh_ql9a
14-06-2010, 09:39 PM
hay đấy anh em ạh
hum nay minh vừa thi xong
trắc nghiệm
khó kinh khủng???
:01:

Cafe
14-06-2010, 11:01 PM
sáng nay ḿnh cũng vừa thi xong nè, sai tầm khoảng 3 câu rồi :(

Phong chém
16-06-2010, 08:02 AM
C̣n nữa k hả bác Cafe? Mai em thi mất ̣y :((